24-4 Tr5 VHNT CTV số ra thứ 7 27-4

25/04/2024 16:12

Tự hào dân tộc qua những trang viết về chiến tranh cách mạng

Mặc dù gần đất nước đã thống nhất, “Bắc – Nam sum họp một nhà” gần nửa thế kỷ, thực tế cho thấy có nhiều tác giả đem đến những tác phẩm văn học đặc sắc, hấp dẫn về đề tài chiến tranh cách mạng. Thông qua những tác phẩm văn học về đề tài trên, bạn đọc thêm tự hào về một dân tộc Việt Nam anh hùng trong cuộc chiến vệ quốc chính nghĩa.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cho biết: Từ những năm đầu cuộc cách mạng cho đến các cuộc kháng chiến giành độc lập, các ấn phẩm mang tính văn học vô cùng quan trọng. Một trong những thắng lợi lớn của chúng ta trong những năm tháng đấu tranh cho đến khi kết thúc chiến tranh năm 1975 là công tác tuyên truyền, trong đó văn học nói riêng đóng góp một vai trò đặc biệt. Có những câu chuyện vô cùng xúc động về những cuốn sách đi vào chiến trường, trên chiến trường…

“Bất chợt mai vàng” là tác phẩm mới nhất của nhà văn Nguyễn Trí Huân, đến với bạn đọc cả nước trong thời gian gần đây. Chạm ngõ tuổi 80, nhưng nhà văn Nguyễn Trí Huân vẫn cho thấy sức sáng tạo dồi dào, sự nhiệt huyết qua những trang văn trong tập truyện “Bất chợt mai vàng” với truyện dài cùng tên là “Con họa mi lông xù vừa bay, vừa hót”. Là tác phẩm viết về đề tài chiến tranh, hai thiên truyện của ông có những trang viết miêu tả những mất mát trong cuộc kháng chiến giành độc lập, tự do của dân tộc ở thế kỷ 20. Những mất mát này được tác giả miêu tả với ngòi bút điềm tĩnh và coi đấy là một hệ quả tất yếu không thể nào tránh khỏi của chiến tranh. Những nhân vật quan trọng nhất trong hai thiên truyện của ông là những người lính.

Họ có xuất thân đa dạng, từ nông dân, con nhà cơ bản, thành phần trí thức tiểu tư sản hoặc có truyền thống cách mạng. Trong các cuộc chiến mà người lính phải đương đầu, cuộc chiến nội tâm là dai dẳng, phức tạp nhất. “Đọc cuốn “Bất chợt mai vàng” có thể thấy những trang viết của tác giả có xu hướng đi sâu vào nội tâm nhân vật, day dứt và tinh tế, bằng những tình tiết giản mộc như mạch ngầm li ti ngấm dần, ngấm dần đến một lúc trở nên lạnh buốt và thấm thía. Toàn tác phẩm toát lên khát vọng về một xã hội lí tưởng, về một cuộc sống giá như không có những sai lầm, không có đất cho những cái ác nảy nở được.”, nhà văn Nguyễn Xuân Thủy, đánh giá về tác phẩm trên.

Đặc biệt, viết về đề tài chiến tranh mới đây, nhân kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954 – 7-5-2024), nhà thơ Hữu Thỉnh, nguyên Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam  ra mắt bạn đọc tập trường ca thơ “Giao hưởng Điện Biên”. Trường ca thơ mới nhất của nhà thơ Hữu Thỉnh gồm 21 chương và 5 phần bình luận bằng thơ, kể về chiến dịch Điện Biên từ những ngày đầu đến lúc kết thúc chiến tranh và cuộc sống hôm nay của vùng đất thiêng ấy. Tất cả chương hồi, câu chuyện, sự kiện cơ bản ở vùng miền núi Tây Bắc đến các nhân vật đã được nhà thơ Hữu Thỉnh tái hiện sinh động, sâu sắc và kỳ vĩ trong “Giao hưởng Điện Biên”.

Nhà thơ Hữu Thỉnh trong buổi ra mắt trường ca thơ “Giao hưởng Điện Biên” tại Hà Nội gần đây.

Đánh giá về trường ca thơ “Giao hưởng Điện Biên”, GS. Phong Lê cho biết: Nhà thơ Hữu Thỉnh không kém một nhà chép sử, bởi tác giả gần như không để sót một sự kiện, diễn biến, địa danh, nhân chứng, tên đất, tên người có liên quan đến chiến thắng Điện Biên Phủ. Với trường ca này, tác giả đưa người đọc trải qua nhiều tâm thế, tâm trạng, ấn tượng là tình đồng đội, quân dân, tiền tuyến hậu phương,... nhân rộng, kết tinh thành tình yêu nước như một phẩm chất ưu trội trường tồn trong tâm thức Việt. Đọc tác phẩm trên, tôi như gội trong niềm tự hào dân tộc”.

Trong khi đó, nhà văn Lê Hoài Nam ghi dấu ấn với cuốn tiểu thuyết “Khắc tinh với thần chết” xuất bản cách đây không lâu. Tiểu thuyết này khai thác đề tài chiến tranh bằng sự kiến giải độc đáo,  phát huy được khả năng tiếp cận và phản ánh những biến động hào hùng và bi tráng, khốc liệt của chiến tranh. Các nhân vật đều được mô tả ở nhiều góc độ, nhiều bình diện, nhiều mối quan hệ, nhiều chiều và được đánh giá giá trị bằng tiêu chí nhân bản qua các tình tiết độc đáo, đậm chất nhân văn.

Ngay từ phần đầu tác phẩm, nhà văn Lê Hoài Nam  để cho ba nhân vật Phạm Hữu Thẩm, Vũ Triền Sông và Nguyễn Văn Đắc cùng ở một đại đội, do Đại đội trưởng Nguyễn Viết Mậu chỉ huy. Lần đầu ra chiến trường, họ còn bỡ ngỡ và vấp phải những khuyết điểm. Đi sâu vào những uẩn khúc của mỗi nhân vật, tác giả xây dựng các tình tiết truyện bằng cách vừa sử dụng các trang nhật ký, vừa sáng tạo miêu tả bằng sự thấu hiểu và khả năng bao quát sâu rộng thực tế cuộc sống chiến đấu. Từ Đại đội trưởng Nguyễn Viết Mậu, chính trị viên Hoàng Như Quang, thủ trưởng Trần Trung Hắc, các chiến sĩ Thẩm, Sông và Đắc, đến ông già A Kôn, những cô gái Kơ Niêl, Hai Huê, Kim Huệ..., mỗi nhân vật đều có cá tính riêng.

Hàng trăm trận đánh được nhà văn miêu tả tỉ mỉ, sinh động với rất nhiều dáng vẻ, nhiều kiểu đánh, độ nguy hiểm và đa dạng về cái chết... Mỗi trận đều hiện rõ tên địa danh, tên người chỉ huy cùng các chiến sĩ, điều đó càng làm tác phẩm gần với hiện thực, gia tăng tính thuyết phục. Những tên địa danh được liệt kê trong “Khắc tinh với thần chết” là chất liệu, là phương diện biểu hiện ngôn ngữ tiểu thuyết có tính thực tiễn gần gũi với đời sống chiến trường, nhằm khắc sâu tính hiện thực của tác phẩm.

Các tác phẩm về đề tài chiến tranh cách mạng gần đây được bạn đọc, giới chuyên môn đánh giá cao.

Nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Trẻ Dương Thanh Tuyền cho rằng, dòng sách về đề tài chiến tranh luôn lưu giữ những cảm xúc của thế hệ. Điển hình như nhật ký Đặng Thùy Trâm, nhật ký Nguyễn Văn Thạc… Tất cả đều là câu chuyện của một người, nhưng cái hay, cái đẹp, cái làm nên giá trị thực sự của những cuốn sách đó chính là cảm xúc của cả thế hệ. “Tôi luôn tin rằng thế hệ trẻ hôm nay vẫn một lòng yêu nước, vẫn luôn sẵn sàng tinh thần cống hiến cho đất nước… điều đó giúp cho chúng ta hướng thiện. Khi chúng ta đã sống được với cảm xúc thế hệ thì sẽ nuôi dưỡng cho mình sống tốt hơn, tử tế hơn. Chính văn học hay những cuốn sách viết về đề tài chiến tranh đã giáo dục tinh thần yêu nước, nêu cao khát vọng cho thế hệ hôm nay”, ông Dương Thanh Tuyền nhận định.

CHỮ VÀ NGHĨA

NHẤT TỰ VI SƯ, BÁN TỰ VI SƯ

Đây là một tục ngữ rất quen thuộc với mọi học sinh và nói chung, với bất cứ ai đang trên đường tiếp thu học vấn. Tục ngữ này có gốc Hán, đọc theo âm Hán- Việt. Chiết tự từng thành tố, ta có: nhất = một, tự = chữ, vi = là, bán =  nửa, = thầy. Nghĩa đen của câu này là “Một chữ là thầy, nửa chữ (cũng) là thầy”. Hàm ý của nó nhằm nhắc nhở mỗi chúng ta về đạo thầy trò ở đời. Rằng “chúng ta phải biết ơn người dìu dắt, dạy dỗ mình, dù chỉ là điều nhỏ nhặt nhất”.

Nhưng phải chăng, câu tục ngữ trên đã được xây dựng trên một lối nói hơi ngoa ngôn, cường điệu? Bởi ta đi học là để thu nhận một hệ thống kiến thức rất rộng, đủ để thành nghề, thành tài. Tri thức có thể ít, có thể nhiều. Song với “nhất tự (một chữ)” và “bán tự (nửa chữ)” có lẽ chẳng là cái gì cả. Người xưa còn có câu Tự vi sư (Chữ làm ra thầy). Thầy thực sự phải chứa trong đầu cả một “biển” chữ ấy chứ. Ta học thầy, chí ít cũng phải được truyền dạy một khối lượng cơ bản của cái “biển chữ” ấy mới “đắc đạo”. Vậy một hai chữ kia thì ăn nhằm gì?

Có một giai thoại liên quan đến xuất xứ của câu nói này. Số là vào đời nhà Đường, có một nhà sư tên là Tề Kỉ, ham thích làm thơ. Ông cũng là người cẩn trọng, chịu khó chăm chút, “thôi xao” từng con chữ. Một lần, ông làm một bài thơ nhan đề Mai sớm theo thể ngũ ngôn. Trong bài có đoạn: Thôn trước trong tuyết dày / Đêm qua mấy cành (hoa) nở. Tề Kỉ làm xong liền đem bài thơ đến thỉnh giáo một người bạn tên là Trịnh Cốc. Trịnh Cốc xem đi xem lại mấy lần, rồi nói: “Mấy cành không đủ biểu hiện được cái ý “sớm”. Tốt nhất là chữa chữ “mấy” thành “một” thì hay hơn”. Tề Kỉ nghe xong rất phục, liền chữa “mấy cành” thành “một cành”. Bài thơ đọc lên ai cũng khen hay. Từ đó, người ta gọi Trịnh Cốc là “ông thầy chữa một chữ” (theo Từ điển thành ngữ, điển cố Trung Quốc, Lê Huy Tiêu dịch, NXB Khoa học xã hội, 1993). Thực tế ở đời, không hiếm những trường hợp “thầy một chữ”. Bởi có khi người ta chỉ thêm, bớt, hoặc thay đổi cho tác giả một từ nhỏ thôi cũng làm giá trị ngữ nghĩa của câu văn khác hẳn.

Câu chuyện trên có lẽ chính là xuất phát điểm làm nên tục ngữ Nhất tự vi sư, bán tự vi sư. Nhưng ngẫm sâu xa hơn, bản chất vấn đề còn bắt nguồn từ nền tảng triết lí của Đạo Khổng, vốn coi trọng Tam cương (vua - tôi, thầy - trò, cha - con), Ngũ thường (Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín). Dân tộc ta tiếp thu một phần tinh hoa truyền thống đó. Tục ngữ Nhất tự vi sư, bán tự vi sư  chứa đựng cả một quan niệm sâu sắc của dân gian về sự học, về đạo thầy trò. Bất kì ai, đã là học trò thì cần phải học bắt đầu từ những kiến thức sơ đẳng nhất. Có thế thì họ mới có cơ sở để tiếp tục mở mang kiến thức cao hơn để đi xa hơn. Hơn nữa, điều này (và mới là điều quan trọng nhất), người thầy luôn luôn là một đối tượng cần phải tôn kính. Thầy giáo phải là người cao hơn một bậc về tri thức, về tư cách, về tầm  nhìn. Không có người thầy, chúng ta khó có cơ hội trau dồi, tiến bộ mọi mặt để lớn lên “thành người” và “thành tài”.

Một chữ cũng vẫn là thầy

                                         Phải chăm rèn luyện hôm nay nên người.

PGS. TS PHẠM VĂN TÌNH

Cắm nồi cơm

Vợ gọi điện nhờ chồng:

- Anh cắm nồi cơm cho em nhé.

- Sao tự dưng lại cắm nồi cơm?

- Ơ hay, anh không cắm thì lấy gì mà ăn. Hết sạch tiền rồi còn cứ quán xá mãi à?

Một lúc sau, chồng gọi điện cho vợ:

- Vợ ơi, anh cắm nồi cơm rồi nhé. Được 80 nghìn đồng, đủ ăn hôm nay rồi.

- !!?

Nguyễn Ngân

Chờ xem sao

Một bà mẹ đưa con gái tới bệnh viện tâm thần khám:

- Bác sĩ ơi, con gái tôi cả năm nay cứ vài hôm lại hét “Tôi sắp đẻ trứng vàng đây” rồi vỗ cánh loạn xạ, kêu cục cục.

- Tôi hiểu rồi. Nhưng lý do gì mà con gái có dấu hiệu bất thường cả năm như vậy mà giờ bà mới đưa đi khám?

- Thì tôi cứ chờ xem có đúng là nó sẽ đẻ ra trứng vàng mà cả năm nay, chả có quả trứng vàng nào được đẻ ra hết.

- !!?

Lê Linh

Căng thẳng

Người bệnh nói với bác sĩ:

- Tôi thường căng thẳng và sợ hãi vào kỳ thi lấy bằng lái xe.

- Không sao đâu, thế nào rồi ông cũng thi đỗ thôi.

- Không phải vậy, tôi là giám khảo.

- !!?

Phạm An

Quá đắt

Cảnh sát nói với một lái xe:

- Đèn xi nhan và đèn pha trên xe của ông đều bị hỏng. Hai lỗi này ông bị phạt 200 nghìn đồng.

Bà vợ ngồi ghế sau nói với lên với chồng:

- Anh thấy chưa, thế mà cái lão ở tiệm sửa xe đòi những 400 nghìn đồng.

Nguyễn Thắng

(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    24-4 Tr5 VHNT CTV số ra thứ 7 27-4