(Tiếp theo và hết)

Phát huy truyền thống vẻ vang, các chiến sĩ Đoàn 126 đặc công Hải quân hăng say tập luyện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ biển, đảo Tổ quốc.
Trừng trị tàu địch
Hỗ ra hiệu cho Khải từ giờ phút này phải hết sức thận trọng, vừa bơi vừa quan sát các hướng, bởi chiếc tàu dầu của địch cách các anh chỉ còn khoảng 400 m. Các loại đèn pha trên tàu liên tục quét trên biển, xen kẽ là các loạt đạn AR15 và lựu đạn chống người nhái nổ lụp bụp trên mặt biển chung quanh tàu. Thỉnh thoảng các tàu tuần tiễu lại lướt qua lướt lại. Sau khi quan sát kỹ quy luật hoạt động chung quanh tàu dầu địch, Hỗ và Khải chuyển hướng, bơi vòng ra phía ngoài rồi ngắm mũi tàu địch, bơi vào khu neo của nó. Các anh đã phát hiện ra yếu điểm của địch: do gió ĐôngNamtừ ngoài khơi thổi vào bờ nên mũi tàu quay ra phía ĐôngNam, còn đuôi tàu ở phía Tây Bắc, do vậy chúng chỉ tập trung quét đèn pha ở hướng Tây Bắc, hướng từ bờ ra . Chúng cho rằng ở phía Đông Nam, đặc công của Việt cộng không có khả năng xâm nhập tàu của chúng được, nên chúng chủ yếu bố phòng bảo vệ ở phía Tây Bắc. Còn một sơ hở nữa là khi bắn đạn AR15 và tung lựu đạn chống người nhái xuống quanh tàu, chúng thường thực hiện theo quy luật cứ 15 phút/lần. Nhưng khi pháo sáng trên bầu trời chưa tắt hẳn, mặc dù đã đến phút thứ 15, chúng vẫn chờ cho pháo sáng tắt hẳn mới bắt đầu bắn đạn AR15 và tung lựu đạn. Vì thế, có lúc 20 phút chúng mới lặp lại quy luật trên. Căn cứ vào tình tiết mới này, Hỗ và Khải quyết định đột nhập vào tàu địch từ phía mũi tàu, còn vị trí gắn mìn dưới đáy tàu địch thì thực hiện đúng như luyện tập thực binh trên sa bàn cát. Khi gắn mìn vào đáy tàu địch xong sẽ rút ra theo đường cũ.
Một loạt đạn bắn găm xuống biển, rồi một loạt tiếng nổ của lựu đạn chống người nhái vừa đứt, Hỗ và Khải lặn sâu xuống rồi luồn nhanh vào phía mũi tàu địch. Từ vị trí đó, hai người sang hai bên mạn tàu. Khải trườn theo mạn trái cách mũi tàu chừng 50 m thì dừng lại nhanh chóng làm sạch hà bám ngoài vỏ tàu rồi gắn mìn vào vị trí. Anh thận trọng kiểm tra rồi vặn kim đồng hồ mìn chỉ số 2 giờ. Đây chính là trung tâm của các khoang chứa dầu của tàu. Ở mạn phải tàu, tổ trưởng Trần Xuân Hỗ cũng tới vị trí gắn mìn ở cách mũi tàu khoảng 80 m. Đây là khoang máy tàu. Sau khi vặn đồng hồ mìn chỉ số 2 giờ kém 3 giây và kiểm tra lại lần cuối, Hỗ và Khải rời đáy tàu theo hướng đã quy định.
Khi các anh rời con tàu được khoảng 20 m, bỗng trên mặt boong bọn lính gác kêu lên rất to: “Vixi… Vixi…” Đúng lúc ấy, một loạt pháo sáng trên tàu địch vút lên tầng không, cả mặt biển quanh tàu sáng như ban ngày. Hỗ và Khải lặn sâu vào lòng biển. Lúc ấy là 0 giờ 5 phút ngày 9-9-1969.
Các loại đạn và lựu đạn chống người nhái của địch nổ liên hồi trên mặt biển và trong lòng biển quanh tàu. Một quả đạn nổ gần làm Hỗ và Khải bị tung lên cao rồi lại chìm nghỉm trong lòng biển, làm dây nối hai đồng đội bị đứt, cả hai người đều bị thương và bị sóng đánh dạt về hai ngả. Khải bị mảnh đạn xuyên vào bẹn, nhưng do anh còn trẻ, khỏe, nên vừa tự băng bó vết thương vừa bơi được vào bờ về đúng vị trí giấu quân của tổ.
Trần Xuân Hỗ bị thương do sức ép, cả hai tai ù đặc không nghe thấy gì. Anh cố tiếp tục bơi và rồi ngất lịm đi để mặc các đợt sóng đẩy vào bờ. Khi tỉnh lại, anh thấy chung quanh mình, bà con trong vùng địch tạm chiến đi đánh cá đang chăm sóc và bôi dầu cao làm ấm lên cơ thể anh. Bà con biết anh là người của cách mạng nên nói: “Chú tìm cách ẩn đi, mấy hôm nay lính Mỹ, ngụy đi lùng sục dữ lắm…”. Anh cảm ơn bà con rồi nhanh chóng tìm về nơi cả tổ giấu quân hôm trước.
Khi Trần Quang Khải vừa chạm được vào bờ, phân đội trưởng Bùi Văn Hy rời khỏi vị trí chỉ huy lao xuống đón anh lên. Hai người mừng lắm nhưng nước mắt thì cứ chảy ròng ròng bởi các anh đều nghĩ là Trần Xuân Hỗ đã hy sinh. Nén đau thương, hai anh em xóa hết dấu vết rồi nhanh chóng tìm về nơi đóng quân của đơn vị.
Gần 2 giờ sáng, hai anh vượt qua tuyến trong an toàn. Vừa ra tới tuyến giữa thì bất ngờ các anh gặp một tốp người dân đi chợ sớm. Mặc dù cả hai người đã hóa trang như những người dân đánh cá, vai vác lưới, chân đi đất, hông đeo điếu cày…, nhưng người dân vẫn nhận ra các anh là những chiến sĩ quân giải phóng. Một chị vừa gạt nước mắt vừa nói:
- Bác Hồ mất rồi thì làm thế nào các anh?
Nghe câu hỏi của chị, phân đội trưởng Bùi Văn Hy hiểu được nỗi lo lắng của đồng bào, chiến sĩ miền Nam sau khi Bác mất. Anh bước lại gần mọi người, khẳng định:
- Chị hãy nói với bà con là đồng bào, chiến sĩ miền Bắc vẫn sát cánh cùng đồng bào, chiến sĩ miền Nam đánh Mỹ. Cách mạng miền Nam nhất định sẽ thắng lợi, đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà như Bác Hồ hằng mong ước.
Các chị ôm chặt từng người rồi dặn: “Các anh nhanh chóng đi đi, trời sáng là bọn địch lại đi càn quét đấy. Sáng nay nhân dân cũng làm lễ tang Bác Hồ…”.
Thế mới biết tấm lòng của đồng bào, chiến sĩ miền Nam đối với Bác và đối với miền Bắc. Vừa tiếp tục rút về căn cứ, các anh vừa hình dung Lễ truy điệu Bác Hồ ở quảng trường Ba Đình diễn ra sáng nay…
- Đến giờ rồi đấy- Trần Quang Khải bật lên trong tiếng nấc.
Hai người nép vội vào bụi tre bên đường, mắt nhìn về phía Cửa Việt. Đúng lúc đó, hai tiếng nổ long trời cách nhau 3 giây và một khối lửa khổng lồ bốc cao cháy sáng rực cả vùng biển Cửa Việt.
Sau những tiếng nổ kinh hoàng ấy, vùng biển Cửa Việt biến thành biển lửa. Bọn địch từ căn cứ Cửa Việt như bị mắc vào cơn ngủ mê, một lúc sau mới định thần được chuyện gì vừa xảy ra đối với chiếc tàu dầu khổng lồ của chúng. Một cơn hoảng loạn xảy ra đối với căn cứ Cửa Việt và toàn bộ căn cứ địch ở Quảng Trị. Ngoài biển, các tàu chiến địch tăng hết tốc độ chạy ra ngoài vùng nguy hiểm rồi vội vã bắn vãi đạn các cỡ ra chung quanh để lấy lại tinh thần. Hàng chục tên địch ở trên tàu dầu bị chính ngọn lửa từ tàu dầu của chúng thiêu rụi thành than. Ở trên bờ, cả ba tuyến, các căn cứ, các đồn bốt, các trại lính tất cả đều nhốn nháo như ong vỡ tổ, bọn chỉ huy thì vừa bắn đạn loạn xạ lên trời vừa gào thét như bầy sói đói. Bọn chạy xuôi, bọn chạy ngược miệng luôn thét: “Vi- Xi, Vi –Xi… Việt Cộng, Việt Cộng…” Khoảng 20 phút sau, bọn địch mới tổ chức được các mũi đi càn quét. Từ tuyến ngoài chúng dàn hàng ngang càn quét vào tuyến trong và tuyến trung tâm của căn cứ Cửa Việt.
Trong lúc chúng càn quét, lùng sục, các anh ung dung giấu mình trong một khu vực khá an toàn chờ đến tối để trở về bờ Bắc sông Bến Hải. Trong lúc Hy và Khải tìm đường về đơn vị, thì từ nơi giấu quân hai ngày trước, Trần Xuân Hỗ cũng nhanh chóng tìm đường về sau hơn 9 tiếng đồng hồ giấu mình dưới ngòi bèo tây nhung nhúc đỉa. Rời khỏi ngòi bèo tây, anh lẫn vào trong đêm, nhằm hướng Bắc đi tiếp. Khi anh bơi từ bờ Nam sang tới bờ Bắc sông Cửa Việt, run rủi thế nào gặp ngay được phân đội trưởng Bùi Văn Hy và chiến sĩ Trần Quang Khải cũng vừa về tới đó trước chừng 5 phút. Ba anh em ôm chầm lấy nhau rưng rức khóc. “Tốt lắm rồi, chúng mình còn sống cả…” - anh Hy nói vậy, rồi mở lương khô ra “liên hoan”. Sau chầu liên hoan mừng chiến thắng, ba anh em tiếp tục hành quân tới bờ Nam sông Bến Hải rồi bơi qua sông sang bờ Bắc là nơi đóng quân của Đoàn 126 trên đất Vĩnh Linh.
Gần hai tiếng sau, quầng lửa ngoài biển vẫn bốc cao. Nhân dân chung quanh căn cứ Cửa Việt vui sướng, hả hê: “Thật đáng đời tụi Mỹ…”.
Chiếc tàu dầu của Mỹ bị các chiến sĩ săn tàu Đội 1, Đoàn 126 đặc công Hải quân ta đánh chìm là chiếc tàu dầu Nô-xiu-bi (Nosubee), có trọng tải 15 nghìn tấn, là chiếc tàu chở dầu lớn nhất của Hải quân Mỹ ở khu vực Đông Nam Á. Lần đầu chiếc tàu này chở đầy dầu tới vùng biển Cửa Việt của Việt Nam, tại đây chiếc tàu này cùng với các sĩ quan, thủy thủ của nó bị các chiến sĩ săn tàu của ta xóa sổ.
Chiến công xuất sắc của các chiến sĩ đặc công Đoàn 126 cổ vũ mạnh mẽ phong trào hành động cách mạng của Hải quân ta trong dịp thi đua “Lập công đền ơn Bác Hồ”. Cán bộ, chiến sĩ tham gia trận đánh đều được tặng thưởng Huân chương Chiến công. Đặc biệt, chiến sĩ trẻ Trần Quang Khải lần đầu xuất trận đã lập công xuất sắc, anh được Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam gặp và khen ngợi. Chiến công đánh chìm chiếc tàu dầu lớn nhất của Hải quân Mỹ ở ngoài khơi cách Cửa Việt 4 km trong đêm 8 rạng sáng ngày 9-9- 1969 là trận đánh tàu địch bằng kỹ thuật đặc công lần đầu ở ngoài biển của Đoàn 126 cũng như các đơn vị đặc công nước toàn chiến trường.
...
(Xem từ số báo ra ngày 5-9-2019)
Ghi chép của Tô Hải Nam