“Âm vang 70 năm Cát Bi – Điện Biên Phủ (1954-2024)”: “Biển lửa” của lòng dân

BÀI VÀ ẢNH: HẢI HẬU 05/03/2024 13:59

(HPĐT)- Chiến thắng Cát Bi vào ngày 7-3-1954 là trận đánh gây thiệt hại nặng nề nhất cho không lực địch, “chia lửa” hiệu quả với chiến trường chính Điện Biên Phủ, làm nên trang sử vàng của quân, dân Hải Phòng trong kháng chiến chống Pháp. Ở tuổi ngoài đôi mươi khi tham gia trận đánh, mỗi “Dũng sĩ Cát Bi” đều mang trong tim quyết tâm đánh thắng bằng bất cứ giá nào, dẫu có phải hy sinh...

Cụ Nguyễn Thế Phim kể lại trận đánh sân bay Cát Bi năm 1954.

Tập bơi, luyện “chạy ruộng” để... tập kích máy bay

Trong mái nhà ấm cúng tại thôn Đồng Tiến, xã Bắc Hưng (huyện Tiên Lãng), cụ Nguyễn Thế Phim, 91 tuổi, bồi hồi nhớ lại: “Năm 1953, vừa tròn 20 tuổi, tôi nhập ngũ và được phân công công tác tại Đại đội 295, Tỉnh đội Kiến An. Cuối năm 1953, tôi được chọn tham gia trận tập kích sân bay Cát Bi...”. Sân bay Cát Bi là sân bay lớn nhất Đông Dương khi đó, được thực dân Pháp tái thiết, mở rộng và nâng cấp vào các năm 1952-1953 để trực tiếp phục vụ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Để bảo vệ sân bay, thực dân Pháp dồn dân, lập vành đai trắng, xây dựng hệ thống phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp, gồm 78 đồn bốt, tháp canh, 6-7 lớp hàng rào dây thép gai xen lẫn bãi mìn đủ loại. Địch bố phòng 13 cụm phòng không bằng vũ khí trọng liên và đặt 5 đồn bốt kiên cố chốt dọc tuyến đường 14 Hải Phòng - Đồ Sơn. Vào thời kỳ cao điểm, địch sử dụng tới 7 tiểu đoàn lính Âu - Phi, Lê dương và ngụy quân cùng một trung đội thám báo Việt - Pháp do viên thiếu tướng Pháp chỉ huy ngày đêm lùng sục canh phòng. Cứ 15 phút đội tuần tiễu vòng lại một lần với chó săn, phương tiện cơ giới và hệ thống đèn pha chiếu sáng dày đặc. Với sự bố phòng cẩn mật, vững chắc, lại thêm ba mặt Bắc, Đông và Nam có biển và sông bao bọc, căn cứ quân sự Cát Bi được coi là nơi “bất khả xâm phạm”.

Cuối năm 1953, trước yêu cầu cấp bách phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ, Tỉnh đội Kiến An được lệnh chọn lực lượng tập kích sân bay Cát Bi. Rút kinh nghiệm lực lượng đông, vũ khí cồng kềnh sẽ bị lộ, 32 đồng chí được lựa chọn kỹ từ các đơn vị, tổ chức thành hai mũi vào hướng Đông - Nam sân bay và được huấn luyện theo yêu cầu trận đánh. Từng tốp chia nhau hành quân “bôn tập”, có đêm chạy đến 30 km, tốc độ đạt tới 7 km/giờ; rồi tập bơi giỏi, có mang theo vũ khí, bộc phá mà không bị ẩm ướt; tập cách tiếp cận địch, ngụy trang, cắt rào, gỡ mìn, động tác khi đèn pha địch chiếu, cách đánh bộc phá phá hoại máy bay… Thời gian đầu, do hình dung máy bay địch rất cao, anh em tập chồng hai, ba người để có thể đứng cao, gắn bộc phá vào máy bay. Sau trận đánh sân bay Đồ Sơn, mục “chồng người” như xiếc này được bỏ. Có người còn sáng kiến lắp bộc phá 2 cân một quả, treo vào cái móc như cái ô là trở thành “thủ pháo”... Cán bộ chính trị quán triệt rõ, phá 1 máy bay bằng tiêu diệt một đại đội địch, góp phần vào chiến thắng Điện Biên Phủ nên dù khó khăn mấy cũng phải làm bằng được. Trước khi đi, chúng tôi dành phút mặc niệm, rồi đọc lệnh của Bộ Quốc phòng, đọc thơ Bác xong ai cũng phấn chấn. Đúng 18 giờ ngày 5-3- 1954, 32 chiến sĩ dưới quyền chỉ huy của 2 đồng chí Lê Thừa Giao và Đỗ Tất Yến nhận lệnh xuất phát..., cụ Phim hồi tưởng.

Khi nhận được báo cáo, Bác Hồ đã gửi điện khen quân dân Kiến An và tặng đơn vị tập kích sân bay Cát Bi danh hiệu “Đoàn dũng sĩ Cát Bi”. Chính phủ thưởng huân chương Quân công hạng nhất tặng đơn vị đánh Cát Bi, một huân chương Quân công hạng hai tặng đồng chí Tỉnh đội trưởng, 2 huân chương Quân công hạng ba tặng 2 chiến sĩ quân báo và 28 huân chương chiến sĩ hạng nhất tặng các cán bộ, chiến sĩ tham gia trận đánh...

Trận đánh “xuất quỷ, nhập thần”

Đêm 5-3, 32 chiến sĩ từ xã Hùng Thắng (Tiên Lãng) vượt sông Văn Úc vào cơ sở xã Hòa Nghĩa, được nhân dân đón tiếp ân cần như con em ruột thịt. Gần sáng, bộ đội phân tán xuống các hầm bí mật. Đêm 6-3, trời tối đen, gió Bắc thổi hun hút, những bóng đen lặng lẽ hướng về sân bay Cát Bi rực sáng ánh điện, vượt qua nhiều vị trí, tháp canh, bãi lầy, sông lạch với tốc độ nhanh nhất. Mũi thứ 2 sau khi mở xong hàng rào thứ 5, do lạc đường nên gặp một hố sâu, dày đặc bèo, không thể vượt qua. Toàn mũi phải lộn lại theo đường mở của mũi thứ nhất để đột nhập sân bay. Mỗi người ôm theo 6 quả thủ pháo, lựu đạn và súng Tông sơn (tháo báng) đủ khả năng chống trả trong trường hợp bị địch phát hiện. Các chiến sĩ phân nhau ra treo lên cánh mỗi chiếc máy bay một “cái ô” thủ pháo, cứ cách một máy bay lại treo một lần. 1 giờ sáng ngày 7-3, tiếng nổ của lựu đạn và bộc phá vang dậy cả sân bay. Các máy bay địch bốc cháy. Một tiểu đội Âu Phi đi tuần và bọn lính canh gác máy bay bị tiêu diệt hoàn toàn. Số bom đạn địch chuẩn bị sẵn trong máy bay bị nổ tung. Đám cháy kéo thành một vệt dài sáng rực suốt dọc đường băng. Địch kinh hoàng không biết tiếng nổ từ đâu, chúng tung hỏa lực phòng không bắn xối đạn lên không trung. 10 phút sau, biết ta tập kích sân bay bằng bộ binh, chúng lại tập trung hỏa lực bắn vào khu vực máy bay đang bốc cháy. Xe bọc thép của địch gầm rú chạy vòng quanh, đổ quân bao vây, nhưng lúc ấy quân ta đã rút ra ngoài an toàn. Sân bay Cát Bi cháy suốt 17 giờ, 59 máy bay địch bị phá hủy cùng nhiều phương tiện vũ khí. Bộ đội Kiến An thực hiện thắng lợi vượt mức yêu cầu Khu ủy đề ra...

Đêm ấy, cả thành phố Hải Phòng và nhân dân các huyện Hải An, Kiến Thụy, quanh sân bay và ven đường 14 bừng tỉnh giấc, hướng về Cát Bi đang rực cháy với niềm vui mừng khôn xiết, càng thêm tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhân dân Hòa Nghĩa bí mật nấu nước, thổi xôi chè mang ra đường đón mừng bộ đội đi qua, bắt ăn uống để lấy sức, tiếp tục hành quân kịp vượt sông Văn Úc về căn cứ. Các đồng chí thương binh được nhân dân giữ lại chăm sóc và chở che chu đáo... - cụ Nguyễn Thế Phim xúc động kể.


BÀI VÀ ẢNH: HẢI HẬU
(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    “Âm vang 70 năm Cát Bi – Điện Biên Phủ (1954-2024)”: “Biển lửa” của lòng dân