(Còn nữa) Trích “Hải Phòng, lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược” (Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân - 1986)
(HPĐT)- Nhận rõ tính chất đấu tranh quyết liệt trong khu vực địch tập kết, để thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 mở rộng họp từ 15 đến 18-7-1954 về nhiệm vụ tiếp thu vùng mới giải phóng, nhất là tiếp thu và quản lý các thành thị, Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo khu 300 ngày và phân công đồng chí Đỗ Mười, Ủy viên Trung ương Đảng, trực tiếp làm Trưởng ban.

Ban chỉ đạo khu 300 ngày, với sự tham gia của Tỉnh ủy Kiến An, Thành ủy Hải Phòng, đã phân tích tình hình và đề ra những nhiệm vụ cấp bách trước mắt phải làm. Phải tập trung chỉ đạo tăng cường cán bộ cho nội thành vì việc đấu tranh với địch, tiếp quản một thành phố công nghiệp lớn là điều rất mới mẻ, phức tạp. Đi đôi với việc hướng dẫn công tác tổ chức lực lượng, lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống địch, Ban chỉ đạo đã quán triệt cho mọi cấp về ý nghĩa to lớn của công tác tiếp quản thành phố lớn mà nghị quyết của Bộ Chính trị tháng 9-1954 đã xác định rõ: “Việc chúng ta tiếp quản được thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, khiến chúng ta không những có nông thôn mà còn có thành thị, đường sắt, cửa biển, vùng công nghiệp… Đó là một biến đổi to lớn, ta có đủ điều kiện kiến thiết quy mô một quốc gia”.
Học tập kinh nghiệm đấu tranh và tiếp quản thành phố Hà Nội và được sự chỉ đạo hết sức chặt chẽ của Trung ương Đảng, của Khu ủy Tả Ngạn và Ban chỉ đạo khu 300 ngày, Thành ủy Hải Phòng và Tỉnh ủy Kiến An đã tiến hành giáo dục cho cán bộ, đảng viên, quần chúng hiểu rõ bản chất, âm mưu của địch, quán triệt tình hình, nhiệm vụ của cách mạng trong thời kỳ mới, xác định phương châm, phương pháp đấu tranh chống địch, đồng thời từng bước hình thành đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, quản lý hành chính và xã hội của địa phương để tiếp quản thành phố.
Khu vực 300 ngày tập kết của địch trở thành nơi đấu trí, đấu lực quyết liệt và rất phức tạp giữa hai thế lực cách mạng và phản cách mạng. Sau khi ngừng bắn, ta mở đợt tuyên truyền rộng lớn khuếch trương thắng lợi của Hiệp định Giơ-ne-vơ, hòa bình được lập lại ở Đông Dương, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Ở các vùng giải phóng, ta tổ chức mít tinh lớn biểu dương lực lượng. Khắp nơi dựng cổng chào, treo cờ, kết hoa, tổ chức học Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau khi Hội nghị Giơ-ne-vơ thành công. Ở các vùng còn tạm bị địch chiếm, ta tăng cường cán bộ và các đội võ trang tuyên truyền xuống từng cơ sở, nơi có điều kiện thì giải thích qua các đoàn thể, mạn đàm, tán phát tài liệu, báo chí. Đi đôi với công tác tuyên truyền, ta tích cực xây dựng các đoàn thể cứu quốc và lực lượng dân quân tự vệ tại chỗ, để làm nòng cốt trong cuộc đấu tranh chống hành động vi phạm hiệp định của địch. Trong không khí phấn khởi của quần chúng cách mạng, ta huy động hàng ngàn người đi đắp các đê Trung Trang và Kim Côn trong vùng địch còn kiểm soát. Bộ đội và nhân dân các huyện Vĩnh Bảo, Tiên Lãng đắp đê sông Luộc, sông Hóa, tích cực chống bão lụt, bảo vệ lúa mùa, khai hoang phục hóa đẩy mạnh tăng gia sản xuất hàn gắn vết thương chiến tranh. Để tăng cường công tác đấu tranh với địch ở trong nội thành, ta đưa một số đồng chí thành ủy viên và tăng cường 80 cán bộ cốt cán vào hoạt động hợp pháp; thành lập Ban cán sự nội thành để thống nhất lãnh đạo và kịp thời đối phó với những diễn biến của tình hình. Chỉ sau một thời gian ngắn, ta đã khôi phục cơ sở ở hầu khắp các xí nghiệp, đường phố, đặc biệt là đã tổ chức được lực lượng tự vệ ở các xí nghiệp lớn trong nội thành, như: Xí nghiệp Cảng có 34 tự vệ, nhà máy xi măng 56 tự vệ, nhà máy đèn 8 tự vệ, sở toa xe 24 tự vệ…
Phải ký Hiệp định Giơne-vơ, thực dân Pháp chịu thừa nhận thất bại cay đắng trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Từ đó nảy sinh tư tưởng hoang mang, chán chường trong hàng ngũ sĩ quan, binh lính địch. Hàng ngũ địch bắt đầu rạn nứt, tan vỡ. Nắm lấy thời cơ này, ta đẩy mạnh công tác tuyên truyền đường lối chính nghĩa và chính sách khoan hồng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ ta, phát động phong trào toàn dân làm công tác địch vận, tiến công mạnh mẽ làm tan rã thêm hàng ngũ binh lính địch, kết hợp với đấu tranh thi hành hiệp định.
Công tác địch vận ở Hải Phòng - Kiến An trong những năm tháng chiến đấu rất sôi nổi. Trên cơ sở kinh nghiệm đã có, Tỉnh ủy Kiến An và Thành ủy Hải Phòng đã tập trung chỉ đạo, nhanh chóng chấn chỉnh các ban địch vận từ tỉnh xuống cơ sở, điều động nhiều cán bộ, đảng viên có kinh nghiệm từ các vùng đã được giải phóng bổ sung cho nội thành, nội thị và các huyện còn tạm bị địch chiếm; vạch kế hoạch đấu tranh cụ thể với từng đối tượng. Với lính ngụy khẩu hiệu vận động là “đào ngũ về với gia đình làm ăn”, với lính Âu Phi là “hòa bình là hồi hương”.