(HPĐT)- Cách đây tròn nửa thế kỷ, vào những ngày cuối tháng 12-1972, quân và dân đất Cảng cùng Thủ đô Hà Nội và cả miền Bắc chung sức, đồng lòng, mưu trí, dũng cảm trong cuộc chiến đấu kéo dài 12 ngày đêm (từ ngày 18 đến ngày 29-12-1972) bảo vệ bầu trời Hà Nội, Hải Phòng với chung một ý chí son sắt “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, làm nên chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” lẫy lừng, mở ra bước ngoặt lớn, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Đại đội 4 pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô luôn nêu cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, trừng trị máy bay Mỹ đến gây tội ác. (Ảnh tư liệu)
Đứng trước hiện vật “bàn đạp chân của máy bay A6”, một phần của chiếc máy bay A6 bị quân và dân Hải Phòng bắn rơi tại cánh đồng xã Đại Hợp (huyện Kiến Thụy) ngày 19-12-1972, đang được trưng bày tại Bảo tàng Hải Phòng, thạc sĩ, đại tá Trần Quốc Huy, nguyên Phó trưởng phòng Quân sự Quân khu Ba thể hiện sự khâm phục và cho biết: Theo những tài liệu ông sưu tầm, nghiên cứu được từ thư mục toàn văn “Hải Phòng kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” do Thư viện khoa học tổng hợp Hải Phòng biên soạn và Lịch sử Sư đoàn 350 (thuộc Quân khu Ba), vào chiều và đêm ngày 19-12-1972, lực lượng phòng không của ta trên địa bàn thành phố bố trí đội hình theo phương án chiến đấu mới. Các đơn vị khu vực thị xã Kiến An và 2 huyện Tiên Lãng, An Thụy liên kết thành một dải hỏa lực từ cửa sông Văn Úc vào đến Kiến An, bảo vệ vòng ngoài thành phố. Ở nội thành, lực lượng được bố trí 2 dải hỏa lực trên hai hướng. Từ đêm ngày 19 đến đêm 21-12-1972, lực lượng phòng không thành phố Cảng phối hợp với quân và dân Thủ đô chiến đấu, lập công giòn giã, dũng cảm đánh trả các đợt đánh phá của địch vào địa bàn, bắn rơi 12 máy bay, diệt và bắt sống một số giặc lái. Tiêu biểu là Tiểu đoàn pháo cao xạ Nhà máy Đóng tàu Bạch Đằng vững vàng đánh trả máy bay bảo vệ nhà máy; tự vệ Nhà máy Xi măng tổ chức một phân đội súng máy cao xạ làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu.
Bước qua các không gian trưng bày, đọc chú thích của từng hiện vật và pano ghi lại những dấu mốc quan trọng của cuộc chiến “12 ngày đêm”, ông Trần Quốc Huy kể: Hà Nội và Hải Phòng là 2 thành phố có vị trí trọng yếu về quốc phòng- an ninh của miền Bắc Việt Nam. Từ ngày 12-12-1972, máy bay hải quân Mỹ xâm phạm không phận Hải Phòng 13 lần và thả 150 quả thủy lôi xuống luồng tàu biển ngoài cửa Nam Triệu, bắn quả tên lửa vào kho xăng dầu Thượng Lý và thôn Vị Xuyên, xã Tân Dân, huyện An Thụỵ (ngày nay là 2 huyện An Lão và Kiến Thụy). Do vậy, Thành ủy Hải Phòng họp khẩn cấp, nghe Bộ Tư lệnh 350 báo cáo tình hình và nhận định: Trong những ngày tới, địch sẽ đánh phá Hải Phòng ác liệt, tàn bạo hơn trước; do đó, tất cả các đơn vị phải triệt để thực hiện những biện pháp phòng, chống máy bay B52 theo kế hoạch. Thực hiện Chỉ thị của Thành ủy, ngay trong ngày 17-12, phần lớn những người không liên quan đến sản xuất, chiến đấu, phục vụ chiến đấu được sơ tán khỏi nội thành. Đêm hôm sau, 18-12-1972, đế quốc Mỹ huy động 90 lần “pháo đài bay” B52 cùng 163 lần chiếc máy bay chiến thuật mở đầu cuộc tập kích chiến lược bằng không quân vào Hà Nội và Hải Phòng. Trải suốt 12 ngày đêm, Hải Phòng cùng Hà Nội dồn toàn bộ tâm- trí- lực cho cuộc chiến mang tính quyết định đến kết quả đàm phán tại Hội nghị Paris về việc rút hoàn toàn đội quân xâm lược Mỹ, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Chia sẻ những thông tin quý giá về cuộc đối đầu 12 ngày đêm với quân xâm lược để bảo vệ bầu trời Thủ đôtrái tim của cả nước và thành phố Cảng Hải Phòng- huyết mạch giao thông của miền Bắc, tiến sĩ Đoàn Trường Sơn, Chủ tịch Hội khoa học Lịch sử thành phố nhận định: Chiến thắng “Hà NộiĐiện Biên Phủ trên không” không chỉ là biểu tượng của bản lĩnh, trí tuệ mà còn chứa đựng nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong 12 ngày đêm đối đầu trên không, Mỹ huy động 792 lần chiếc B52, 1.990 lần máy bay cường kích chiến thuật, ném gần 30.000 tấn bom đạn xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác. Bằng sự mưu trí và anh dũng, quân và dân ta bắn hạ được 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B52, bắt sống 44 giặc lái, tạo nên thế trận “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không” hoàn toàn thắng lợi. Thật tự hào vì quân và dân Hải Phòng cũng ghi dấu, góp phần không nhỏ vào chiến công này, khi bắn rơi 17 máy bay, trong đó có 4 chiếc B52, bắt sống và diệt một số giặc lái. Chiến tích vang dội đó cho thấy tầm nhìn chiến lược, sự chuẩn bị kỹ lưỡng và kinh nghiệm xương máu được đúc kết suốt nhiều năm liền, qua nhiều trận đánh của quân và dân ta trước quân xâm lược.

Huấn luyện kíp chiến đấu Trung đoàn 285, sư đoàn 363. Ảnh: Cao Thanh Đông
Trước đó, năm 1967, sau khi nghe đồng chí Phùng Thế Tài (lúc đó là Phó Tổng Tham mưu trưởng phụ trách Phòng không- Không quân) báo cáo về hoạt động của B52, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống càng sớm càng tốt, để có thời gian suy nghĩ, chuẩn bị. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”. Thực hiện chỉ thị của Bác, quân và dân ta nỗ lực nghiên cứu tìm cách đánh bại máy bay B52. Từ trận đầu đọ sức trên bầu trời miền Bắc ngày 16-4-1972, khi đế quốc Mỹ sử dụng máy bay chiến lược B52 ném bom hủy diệt Hải Phòng, tập trung ở một số khu vực như Hạ Lý, Sở Dầu (quận Hồng Bàng), Cầu Tre (quận Ngô Quyền), Hưng Đạo, Đa Phúc (quận Dương Kinh), quân và dân ta đúc rút được thêm nhiều bài học thực tiễn quý báu, góp phần tạo cơ sở đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích bằng không quân chiến lược của đế quốc Mỹ trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng trong 12 ngày đêm tháng 12-1972.
Chiến tranh đã lùi xa, song chiến thắng “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không” 50 năm về trước luôn là bản hùng ca bất diệt vang lên trên thành phố Cảng “Trung dũng- Quyết thắng”./.
phương linh