Y tế - Sức khỏe

Béo phì - nguy cơ lớn đối với sức khỏe tim mạch

QH (theo TTXVN) • 07/10/2026 14:33

Các chuyên gia cảnh báo béo phì là bệnh mạn tính, đa hệ thống, làm gia tăng nguy cơ tim mạch và cần được quản lý lâu dài, cá thể hóa.

bao-phi.png
Mô mỡ dư thừa không chỉ là nơi tích trữ năng lượng mà là cơ quan nội tiết hoạt động, góp phần khởi phát và thúc đẩy quá trình xơ vữa động mạch, các bệnh tim mạch. Ảnh: Hội Tim mạch học Việt Nam

Tại Đại hội Tim mạch toàn quốc lần thứ 20, Hội Tim mạch học Việt Nam công bố những điểm chính trong “Đồng thuận của Hội Tim mạch học Việt Nam năm 2026 về béo phì và bệnh tim mạch”. Các chuyên gia nhấn mạnh, béo phì cần được nhìn nhận là bệnh mạn tính, đa hệ thống, có xu hướng tái phát và liên quan chặt chẽ đến sức khỏe tim mạch.

GS.TS.BS Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội Tim mạch học Việt Nam, cho biết bên cạnh những yếu tố nguy cơ tim mạch truyền thống như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, lối sống ít vận động, béo phì là một nguy cơ quan trọng nhưng chưa được quan tâm đúng mức.

Theo các chuyên gia, mô mỡ dư thừa không đơn thuần là nơi dự trữ năng lượng mà còn hoạt động như một cơ quan nội tiết, tác động đến chuyển hóa, huyết áp, tình trạng viêm, chức năng nội mô và cấu trúc tim. Thừa cân, béo phì có thể làm nặng thêm nhiều yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường típ 2, rối loạn lipid máu, bệnh thận mạn, gan nhiễm mỡ chuyển hóa và ngưng thở khi ngủ; đồng thời trực tiếp góp phần làm gia tăng bệnh tim mạch.

Béo phì có liên quan đến suy tim, rung nhĩ, huyết khối tĩnh mạch, bệnh tim mạch do xơ vữa và bệnh van tim. Ở người mắc suy tim, tình trạng béo phì còn liên quan đến chất lượng cuộc sống thấp hơn, nhiều dấu hiệu và triệu chứng hơn, khả năng gắng sức giảm và nguy cơ phải nhập viện vì suy tim cao hơn.

Không chỉ nhìn vào chỉ số BMI

Từ những bằng chứng trên, Hội Tim mạch học Việt Nam khuyến nghị không đánh giá béo phì chỉ dựa vào cân nặng hoặc chỉ số khối cơ thể (BMI). Bác sĩ cần kết hợp nhiều yếu tố như vòng eo, phân bố mỡ, thành phần cơ thể, bệnh đồng mắc và tổn thương cơ quan để đánh giá đầy đủ tình trạng sức khỏe cũng như nguy cơ liên quan đến béo phì.

Cách tiếp cận này đặc biệt có ý nghĩa trong nhận diện những trường hợp có lượng mỡ nội tạng cao nhưng BMI chưa ở mức quá cao. Qua đó, việc đánh giá nguy cơ không chỉ dựa trên một con số mà hướng tới xác định tác động thực sự của lượng mỡ dư thừa đối với sức khỏe.

Công nghệ cũng đang mở thêm các công cụ hỗ trợ quá trình nhận diện và đánh giá nguy cơ. GS.TS.BS Phạm Mạnh Hùng cho biết trí tuệ nhân tạo và các ứng dụng công nghệ giúp bác sĩ tiếp cận thông tin tốt hơn, bổ sung công cụ chẩn đoán, xác định yếu tố nguy cơ, từ đó đưa ra quyết định chính xác và cá thể hóa hơn cho người bệnh, nhất là trong lĩnh vực tim mạch.

Theo các chuyên gia, cách tiếp cận điều trị béo phì vì thế cũng cần thay đổi. Mục tiêu không chỉ là trả lời câu hỏi người bệnh cần giảm bao nhiêu kilôgam, mà quan trọng hơn là cải thiện sức khỏe và kết cục lâm sàng, giảm nguy cơ biến cố tim mạch, kiểm soát bệnh đồng mắc, cải thiện triệu chứng, khả năng vận động và chất lượng cuộc sống.

Quản lý lâu dài, cá thể hóa

Cảnh báo về béo phì càng đáng chú ý khi tình trạng thừa cân, béo phì tại Việt Nam đang gia tăng. Theo số liệu được dẫn trong tài liệu đồng thuận, năm 2021, tỷ lệ người trưởng thành Việt Nam từ 18-69 tuổi có BMI từ 25 kg/m² trở lên là 19,5%. Đến năm 2030, ước tính có khoảng 18,92 triệu người trưởng thành tại Việt Nam thừa cân, béo phì.

Tình trạng này cũng gia tăng nhanh ở trẻ em và thanh thiếu niên. Giai đoạn 2010-2025, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở nhóm 5-19 tuổi tăng trung bình 7,9% mỗi năm. Riêng năm 2025, tỷ lệ thừa cân và béo phì ở nhóm tuổi này lần lượt là 20,68% và 11,36%, tương ứng khoảng 4,8 triệu trẻ em và thanh thiếu niên sống chung với tình trạng thừa cân hoặc béo phì.

Bên cạnh các yếu tố nguy cơ truyền thống, GS.TS.BS Phạm Mạnh Hùng cho biết giới chuyên môn ngày càng quan tâm đến những yếu tố nguy cơ mới nổi, trong đó có stress, môi trường, ô nhiễm không khí và các yếu tố liên quan đến tình trạng viêm.

Hội Tim mạch học Việt Nam khuyến nghị quản lý béo phì theo hướng lâu dài, đa mô thức và cá thể hóa, phù hợp với mức độ béo phì, bệnh đồng mắc và mục tiêu điều trị của từng người. Can thiệp lối sống vẫn là nền tảng, song không phải mọi trường hợp đều có thể chỉ dựa vào thay đổi chế độ ăn uống và tăng cường vận động.

Mức giảm cân cũng cần được gắn với lợi ích sức khỏe cụ thể. Giảm từ 5% trọng lượng cơ thể có thể giúp cải thiện các yếu tố nguy cơ tim mạch; giảm từ 10% hướng tới kiểm soát biến chứng và cải thiện kết cục tim mạch, trong khi một số trường hợp cần giảm từ 15%.

Đối với người mắc bệnh tim mạch, các liệu pháp đã được chứng minh có khả năng bảo vệ tim mạch cần được ưu tiên. Bên cạnh thay đổi lối sống, thuốc có thể được sử dụng ngay từ đầu ở người béo phì lâm sàng, kết hợp với can thiệp lối sống nhằm đạt hiệu quả giảm cân và bảo vệ tim mạch sớm hoặc áp dụng trong những trường hợp cần giảm nhiều cân.

Phẫu thuật chuyển hóa - giảm cân được cân nhắc khi điều trị không phẫu thuật thất bại, ở người có BMI từ 35 kg/m² trở lên hoặc từ 30 kg/m² kèm bệnh đồng mắc.

Các chuyên gia lưu ý, thuốc điều trị béo phì phải được sử dụng theo chỉ định và dưới sự giám sát của bác sĩ. Người bệnh không nên tự ý sử dụng thuốc để giảm cân. Việc lựa chọn phương pháp điều trị cần căn cứ mức độ béo phì, bệnh đồng mắc và mục tiêu sức khỏe của từng trường hợp.

Nhìn nhận béo phì như một bệnh mạn tính, thay vì vấn đề đơn thuần về cân nặng, giúp chuyển trọng tâm từ giảm cân ngắn hạn sang quản lý sức khỏe lâu dài. Đây cũng là cơ sở để phát hiện sớm nguy cơ tim mạch, lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp và hạn chế các biến chứng liên quan đến béo phì.

QH (theo TTXVN)
(0) Bình luận
Béo phì - nguy cơ lớn đối với sức khỏe tim mạch