Trần Văn Lợi
Bếp lò rèn đặt ở đầu làng, dưới vòm gạo cổ thụ. Căn nhà bác thợ rèn được chia thành hai gian bằng nhau; gian trong dùng để nghỉ ngơi, còn gian ngoài thông thoáng ba mặt, là nơi bác làm việc hằng ngày. Đồ nghề nằm ngổn ngang, bề bộn trên gian nhà rộng chừng mươi mét vuông. Quan trọng nhất là cái bếp lò, gồm chiếc vành bánh xe bằng sắt hoặc bằng gỗ có tay quay, đường kính rộng gần một mét. Vành bánh xe này truyền lực với ống bễ bằng sợi ròng rọc. Ống bễ thổi hơi ra ngoài bếp than được đặt hơi thấp một chút giữa nền nhà. Bên cạnh là bộ đe, bộ búa, bộ ve, bộ dũa, cái chậu sắt han gỉ đựng đầy nước cùng hòn đá mài. Bộ đe gồm một cái hình trụ, được chôn sâu dưới đất dùng để rèn những khối sắt to, cái nhỏ hơn hình chữ nhật, được đặt trên nền nhà, dùng để rèn những thanh sắt mỏng. Bộ búa khoảng dăm cái lớn nhỏ khác nhau, dùng cho từng công đoạn rèn sắt. Bộ ve dùng để chặt sắt cũng chừng bằng ấy cái, mỗi cái đều được kẹp giữa một đoạn tre để tiện cầm nắm khi làm…
Bác thợ rèn tuổi trạc ngũ tuần, thân hình rắn rỏi, khuôn mặt sạm đen luôn nở nụ cười. Giúp việc bác là hai anh con trai to cao lực lưỡng. Bếp lò rèn của bác đỏ lửa quanh năm suốt tháng, làm ra không biết bao nhiêu là đồ gia dụng và nông cụ phục vụ cho bà con trong làng, từ chiếc đinh thuyền nhỏ xíu cho đến dao, kéo, cuốc, xẻng, lưỡi cày, răng bừa….Nhưng bận rộn nhất vẫn là thời gian sắp đến vụ gặt, khi trong làng có bao nhiêu chiếc liềm đều được đưa ra cắt lại trấu. Đó là những chiếc liềm cắt, liềm xén sau những tháng ngày dài nằm nghỉ ngơi trên gác bếp hay góc nhà, lưỡi liềm đã cùn và bắt đầu hoen gỉ. Việc nhiều quá khiến cha con bác thợ rèn phải làm mải miết, quần quật suốt ngày, thậm chí không được nghỉ trưa, tranh thủ làm tối. Những chiếc liềm được khắc tên chủ sở hữu, nằm chất thành đống lớn. Bác thợ rèn ngồi bên bếp lò, tay phải quay vành bánh xe thổi ống bễ, còn tay trái dùng kìm kẹp chiếc liềm vùi vào bếp than đang đỏ rực. Chỉ phút sau, khi chiếc liềm rực hồng, bác nhanh chóng gắp chiếc liềm ra nhúng vào chậu nước cho già chất thép rồi đặt lên đe. Hai cha con bác thay nhau quai búa. Sau mấy lần như thế, chiếc liềm mỏng hơn chút nhưng ánh thép sáng hơn. Cuối cùng là công đoạn cắt trấu liềm bằng những chiếc dũa sắc do anh con trai cả của bác làm. Tiếng ống bễ thổi phì phì, tiếng người thở hổn hển, tiếng búa nện thình thịch, chắc nịch và tiếng sắt thép mài vào nhau roàn roạt…tạo nên sự sôi động, hoạt náo. Thỉnh thoảng, cha con bác lại dành mươi phút nghỉ để thư giãn gân cốt và để ngắm nhìn những chiếc liềm được tôi già, sáng loáng và rất sắc, trông như mới toanh…
Bác thợ rèn ngày ấy giờ không còn nữa, nhưng con cháu bác vẫn ngày ngày thổi bễ, quai búa bên cái bếp lò già nua, cũ kỹ. Ngọn lửa bếp lò rèn của làng tôi vẫn được gìn giữ từ ngày này sang ngày khác, từ đời trước đến đời sau…