Hiện tượng En Ni-nô và La Li-la ảnh hưởng đến nước ta rõ rệt hơn, nhất là trong thập kỷ 1991-2000, làm tăng hạn hán và lũ lụt. Mực nước biển dâng lên 10-25cm trong thế kỷ XX, đặc biệt trong 15 năm cuối cùng...

|
| Trong thời kỳ 1960 - 2007, số cơn bão ảnh hưởng đến Việt Nam tăng 0,226 cơn/thập kỷ |
Hiện tượng nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng do sự gia tăng của hàm lượng khí nhà kính nhân tạo trong khí quyển trong khoảng hơn 100 năm qua là bằng chứng về sự can thiệp nguy hiểm của con người vào hệ thống khí hậu Trái đất.
Vấn đề toàn cầuVấn đề biến đổi khí hậu (BĐKH) trở thành chủ đề của nhiều diễn đàn, hội nghị thượng đỉnh toàn cầu. Thế giới đã có được một văn bản pháp lý định hướng cho hành động chung nhằm bảo vệ khí hậu Trái đất, đó là Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH được 157 nước ký tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về môi trường và phát triển họp tại Ri-ô-đờ Gia-nê-rô (Bra-xin) năm 1992 và Nghị định thư Ki-ô-tô, trong đó quy định các nước phát triển phải giảm phát thải tổng hợp các khí nhà kính ít nhất 5% so với mức năm 1990 của nước mình trong thời kỳ 2008-2012.
Đáng tiếc, 18 năm đã trôi qua kể từ khi Công ước Khí hậu ra đời, tình hình không có gì cải thiện, ngược lại càng trở nên tồi tệ hơn. Hàm lượng các khí nhà kính trong khí quyển tiếp tục tăng lên với tốc độ nhanh hơn bao giờ hết (từ mức 1,1% hằng năm trong thập kỷ 90 lên mức 3,3%/năm trong thời kỳ 2000-2004; tổng cộng, từ năm 1990 đến năm 2004, tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu đã tăng 28%) và đạt mức cao nhất từ trước đến nay, tăng 31% so với thời kỳ tiền công nghiệp, vượt xa các kịch bản xấu nhất mà Ban Liên chính phủ về BĐKH đã đưa ra.
Tuy nhiên, việc quy trách nhiệm giảm phát thải khí nhà kính nhằm hạn chế sự nóng lên toàn cầu thì không dễ dàng. Chung quy cũng vì lợi ích riêng, trong đó có cả lý do chính trị. Nếu đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng vượt quá 20C so với thời kỳ tiền công nghiệp thì một thảm họa sinh thái là khó tránh khỏi.
Kết quả đo đạc, nghiên cứu hiện nay cho thấy nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỷ XX đã tăng lên 0,740C. 6 tháng đầu năm 2010 là một chuỗi tháng có nhiệt độ trung bình toàn cầu cao chưa từng có (trong đó, tháng 6 vừa qua là tháng nóng nhất kể từ năm 1880). Năm 2010 đã vượt qua năm 1998 về số tháng phá kỷ lục nhiệt độ cao nhất theo lịch năm. Đây là thời kỳ nhiệt độ cao nhất trong vòng 600 năm trở lại đây. Kể từ năm 1850 đến 2006, trong số 12 năm nóng nhất, thì đã có 11 năm nằm trong 12 năm xảy ra gần đây (1995-2006). Nhiệt độ ở tầng trên của lớp băng vĩnh cửu ở Bắc cực đã tăng 30C kể từ năm 1980. Sự tan băng ở các vùng cực và trên núi cao, giảm tuyết ở bán cầu Bắc, tăng nhiệt độ nước biển đã làm cho mực nước biển dâng lên 10-25cm trong thế kỷ XX.
Hiện tượng mưa cũng tăng 5-10% trong thế kỷ XX trên lục địa bán cầu Bắc và giảm ở một số nơi. Khoảng 20 năm gần đây, người ta đã phát hiện mối quan hệ giữa các dị thường khí hậu với hiện tượng En Ni-nô và La Li-la. Thiên tai (bão, lũ, lụt, hạn hán, tố, lốc...) và các hiện tượng thời tiết cực đoan (nắng nóng, rét đậm, rét hại, mưa lớn...) gia tăng.
Biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam đã tăng 0,5-0,7 độ C trong khoảng 50 năm qua. Trong 3 thập kỷ gần đây, số đợt không khí lạnh qua Bắc Bộ giảm rõ rệt, trung bình từ 29 đợt/năm xuống còn 24 đợt/ năm.Trong thời kỳ 1960–2007, số cơn bão hoạt động trên Biển Đông tăng lên với tốc độ 0,45 cơn/thập kỷ. Số cơn bão ảnh hưởng đến Việt Nam cũng tăng lên trung bình 0,226 cơn/thập kỷ, số cơn bão ảnh hưởng đến khu vực phía Nam tăng lên. Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm rõ rệt, từ 35,8 ngày trong thập kỷ 1971-1980, xuống còn 14,5 ngày/năm trong 10 năm gần đây. Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trong 9 thập kỷ vừa qua không nhất quán: Có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống. Trên lãnh thổ Việt Nam, xu thế biến đổi của lượng mưa cũng rất khác nhau giữa các khu vực. Trong 50 năm qua, mực nước biển trung bình tăng 2,5-3,0cm/1 thập kỷ.

|
Hàng trăm ha lúa xuân ở thị xã Chí Linh bị thiếu nước nghiêm trọng do ảnh hưởng của hiện tượng En Ni-nô đầu năm 2010
|
Hiện tượng En Ni-nô và La Li-la ảnh hưởng đến nước ta rõ rệt hơn, nhất là trong thập kỷ 1991-2000, làm tăng hạn hán và lũ lụt. Mực nước biển dâng lên 10-25cm trong thế kỷ XX, đặc biệt là trong vòng 15 năm cuối cùng. Số ngày rét đậm, rét hại giảm đi, trong khi số ngày nắng, nóng tăng lên, nhất là trong thập kỷ 1991-2000, rõ rệt nhất ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ.
Nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam có thể tăng 2,1-3,6 độ C theo “kịch bản” cao và 1,6-2,80C theo “kịch bản” trung bình vào năm 2100 so với trung bình thời kỳ 1980-1999. Theo “kịch bản” cao, vào cuối thế kỷ XXI, lượng mưa năm có thể tăng khoảng 9-10% so với trung bình thời kỳ 1980-1999 ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, 4-5% ở Nam Trung Bộ và 2% ở Tây Nguyên, Nam Bộ. Theo “kịch bản” trung bình, các con số tương ứng là 7-8% và 2-3%. Theo “kịch bản” cao, mực nước biển trung bình có thể tăng 30-33cm vào năm 2050 và 74-100cm vào năm 2100 so với thời kỳ 1980-1999.
Nhiệt độ tăng làm dịch chuyển ranh giới khí hậu dẫn đến dịch chuyển ranh giới nhiệt của các hệ sinh thái lục địa về phía Bắc và lên cao hơn. Kết quả là các thực vật nhiệt đới có thể phát triển xa hơn về phía Bắc và lên các độ cao cao hơn, trong khi các thực vật ôn đới, á nhiệt đới bị thu hẹp lại hoặc bị mất đi nếu không thích nghi kịp (thí dụ: vùng núi cao Hoàng Liên Sơn). Hệ sinh thái biển, ven biển bị thay đổi do mực nước biển dâng, nhiệt độ, độ mặn thay đổi cùng với những thay đổi về dòng chảy, sóng, biên độ thủy triều, xâm nhập mặn, xói lở bờ biển. Nhiệt độ tăng cùng với khô hạn có thể làm tăng các vụ cháy rừng vào mùa khô. Nhiệt độ tăng làm thay đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng ở một số nơi do vụ mùa kéo dài hơn, trong khi vụ đông bị rút ngắn lại. Sự gia tăng xâm nhập mặn do nước biển dâng làm giảm đáng kể diện tích đất nông nghiệp ở các vùng đồng bằng châu thổ và ven biển, nhất là đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng. Những biến đổi khu vực trong phân bố và sinh sản của các loài cá do nóng lên toàn cầu sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành thủy sản. Sự suy giảm của rừng ngập mặn do nước biển dâng và những yếu tố môi trường thay đổi ảnh hưởng đến điều kiện sinh thái của một số loài thủy sản tự nhiên. Những hoạt động công nghiệp dễ bị tổn thương nhất sẽ xảy ra ở dải ven biển và những vùng đồng bằng châu thổ thường bị lũ lụt. Nhiệt độ tăng cùng với số ngày nắng nóng tăng lên làm tăng nhu cầu tiêu thụ năng lượng. Nguy cơ lớn nhất xảy ra ở những vùng thấp có mật độ dân cư cao và khả năng thích nghi kém, đặc biệt đang phải đối mặt với những tác động khác như bão, nước dâng...
GS.TSKH NGUYỄN ĐỨC NGỮ ( Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng - thủy văn)Tác động của biến đổi khí hậu đến Hải Dương
Số liệu quan trắc tại Trạm Khí tượng Việt Hòa (TP Hải Dương) cho thấy, 10 năm cuối của thế kỷ XX là thập niên nóng nhất của thế kỷ này, với nền nhiệt độ trung bình 23,50C, tăng 0,20C so với trung bình nhiều năm. Nhiệt độ trung bình 10 năm đầu thế kỉ XXI là 23,80C, tăng 0,30C so với thập kỷ 90 của thế kỷ trước và tăng 0,50C so với thời kỷ 1960-1999. Lượng mưa bình quân 10 năm cuối thế kỷ XX đạt 1.406,1mm, so với 1.500-1.600mm của thời kỳ 1960-1999. Lượng mưa bình quân thời kỳ 2000-2009 đạt 1.506,8mm, tăng 100,7mm so với thời kỳ 1990-1999. Trong thập niên 90 đã có 17 cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Hải Dương, mức độ ảnh hưởng trung bình, gió mạnh nhất đạt cấp 8-9. Trong giai đoạn 10 năm đầu thế kỷ XXI có 12 cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng, sức gió mạnh nhất đạt cấp 10.
KS. NGUYỄN VĂN HOẠCH (Phó Giám đốc Trung tâm Khí tượng – Thủy văn tỉnh)
|