Thống nhất đầu mối quản lý nợ công
(HPĐT) - Ngày 23-11, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Quản lý nợ công (sửa đổi); thảo luận ở hội trường về dự án Luật An ninh mạng; dự án Luật Tố cáo (sửa đổi).
Với tỷ lệ 85,74% số đại biểu tán thành, Quốc hội chính thức thông qua Luật Quản lý nợ công (sửa đổi). Theo đó, Bộ Tài chính sẽ là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về nợ công, thay vì 3 cơ quan đầu mối như trước. Luật cũng giao Chính phủ phân công cụ thể nhiệm vụ, cơ chế phối hợp của các bộ, ngành liên quan trong quản lý nhà nước về nợ công.
Cụ thể, Bộ Tài chính sẽ chủ trì tổ chức thực hiện đàm phán, ký kết thỏa thuận vay thương mại, hiệp định khung, hiệp định cụ thể về vay ODA và vay ưu đãi nước ngoài nhân danh Nhà nước và Chính phủ.
Với lần sửa đổi này, luật cũng bổ sung quy định về quản lý cho vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ. Cụ thể, tổ chức tín dụng được lựa chọn là cơ quan cho vay lại phải đáp ứng điều kiện như phải được ít nhất một trong các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế xếp hạng tín nhiệm ở mức tín nhiệm ngang bằng hoặc thấp hơn một bậc so với mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam.
![]() |
| Đoàn đại biểu Quốc hội Hải Phòng bấm nút thông qua Luật Quản lý nợ công (sửa đổi). |
Báo cáo về tình hình nợ công được Chính phủ gửi các đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 4 cho biết, dự kiến cuối năm 2017 dư nợ công khoảng 3,13 triệu tỷ đồng, tương đương 62,6% GDP. Con số này giảm 1% so với cách đây một năm. Tuy nhiên, nếu xét về giá trị tuyệt đối, dư nợ công năm nay lại tăng 0,27 triệu tỷ đồng.
Tranh luận về việc buộc doanh nghiệp ngoại đặt máy chủ dịch vụ Internet ở Việt Nam
Thảo luận về dự án Luật An ninh mạng, nhiều đại biểu Quốc hội góp ý vào quy định buộc các doanh nghiệp nước ngoài khi cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet tại Việt Nam, phải đặt máy chủ quản lý dữ liệu người sử dụng ở Việt Nam.
Đại biểu Nguyễn Hữu Cầu (Nghệ An) cho biết, yêu cầu này đã được 14 nước nhưNga, Ấn Độ, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ... thực hiện. “Các nước đó làm được thì chúng ta làm được” và đại biểu Nguyễn Hữu Cầu khẳng định quan điểm ủng hộ quy định nêu trên của Luật. Theo đại biểu, các doanh nghiệp dịch vụ Internet nước ngoài thu lợi nhuận từ việc cung cấp dịch vụ tại Việt Nam phải chịu các quy định bình đẳng như các doanh nghiệp khác.Các doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ thu lợi nhuận rất cao, trong khi đó cơ quan quản lý nhà nước lại không quản lý được thu nhập, làm thất thoát một lượng tiền thuế lớn của nhà nước. Hơn nữa,môi trường thông tin mạng không khác gì môi trường xã hội, có cái tốt và cũng nhiều cái xấu làm băng hoại tư tưởng, làm sai lệch nhận thức, dẫn đến những hành vi sai trái của con người.
Đại biểu Lê Tấn Tới (Bạc Liêu) cũng ủng hộ quan điểm này và cho rằng, thời gian qua nhiều vụ gây rối làm mất an ninh trật tự ở các địa phương đều có sự tham gia của một số trang mạng. Do đó việc ban hành Luật An ninh mạng với những quy định như dự thảo hoàn toàn phù hợp với luật pháp Việt Nam.
Tuy nhiên, theo đại biểu Nguyễn Thị Kim Thúy (Đà Nẵng), quy định nhà cung cấp dịch vụ phải đặt cơ quan đại diện, máy chủ quản lý dữ liệu người sử dụng ở Việt Nam làtrái với cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO và Hiệp định thương mại tự do EU - Việt Nam. Ngoài ra, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà Việt Nam từng ký kết, quy định "không bên nào được sử dụng hoặc lựa chọn địa điểm lắp đặt các cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin trong phạm vi lãnh thổ của mình, để xem đó như điều kiện triển khai công việc kinh doanh trong lãnh thổ đó". Đại biểu cho rằng, Việt Nam đang trong quá trình đàm phán CP TPP gồm 11 nước, do đó dự luật không nên đặt ra những quy định trái với quy định mà Việt Nam từng thống nhất.
Đại biểu Nguyễn Lân Hiếu (Tiền Giang) cũng cho rằng, việc yêu cầu các công ty đa quốc gia đặt máy chủ ở Việt Nam là khó thực hiện, vì các nhà cung cấp có thể sử dụng biện pháp công nghệ khác như điện toán đám mây...
Theo đại biểu, không nên chỉ nhìn vài trăm triệu USD quảng cáo trên các mạng xã hội chưa thu được thuế mà phải thấy những quảng cáo có thông tin bổ ích, góp phần quan trọng giúp phát triển kinh tế - xã hội, giúp nâng cao dân trí. Dẫn số liệu Việt Nam hiện có 80 triệu tài khoản Facebook, là một trong những nước có lượng người truy cập mạng xã hội lớn nhất thế giới, đại biểu đề nghị "cân nhắc yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia và phát triển kinh tế xã hội trước khi ban hành dự luật này".
Đại biểu Nguyễn Thị Kim Thúy góp ý thêm: "Việc bảo vệ an ninh quốc gia rất quan trọng, nên Quốc hội đã ban hành Luật An ninh quốc gia, Luật An toàn thông tin mạng. Có thể coi 2 luật như hai cái khóa rất chắc chắn. Nay thêm Luật An ninh mạng không khác gì thêm cái khóa thứ ba. Thêm một khóa chỉ để khóa cùng một cửa, nhưng lại giao cho một người khác giữ chìa thì chắc hơn, hay cồng kềnh hơn trong thời buổi mở cửa này?"- đại biểu băn khoăn.
Tranh luận với đại biểu Nguyễn Thị Kim Thúy, đại biểu Nguyễn Thanh Hồng (Bình Dương) nhấn mạnh, khái niệm an toàn thông tin được Luật An toàn thông tin mạng quy định chỉ bao gồm 3 đặc tính: nguyên vẹn, bảo mật, và khả dụng. Như vậy, tính đúng đắn và bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích công dân chưa được Luật An toàn thông tin mạng đề cập thỏa đáng. Thừa nhận có sự chồng lấn với Luật An toàn thông tin mạng, song đại biểu Nguyễn Thanh Hồng đề nghị, cần rà soát, chỉnh lý dự án Luật An ninh mạng để xử lý tốt những điểm chồng lấn, góp phần bảo đảm an ninh quốc gia.
![]() |
| Đại biểu Nguyễn Trọng Bình (Hải Phòng) phát biểu tại phiên thảo luận về Luật An ninh mạng. |
Tán thành với quan điểm này, đại biểu Nguyễn Trọng Bình (Hải Phòng) cho rằng, Luật An ninh mạng là thực sự cần thiết. Theo đại biểu Nguyễn Trọng Bình, Luật An toàn thông tin mạng 2015 mới chỉ bảo đảm tính nguyên vẹn, tính bảo mật và tính khả dụng của thông tin, có nghĩa là thông tin đưa lên không bị xâm nhập trái phép, không bị bóp méo, đưa vào được và lấy ra được. Luật cũng quy định các hành vi tổ chức, cá nhân phải làm để bảo đảm an toàn thông tin mạng, tức là bảo đảm tính bảo mật, tính nguyên vẹn và tính khả dụng của thông tin. Nhưng vấn đề ở đây là việc lợi dụng mạng để gây hại cho tổ chức, cá nhân nhưng không hề ảnh hưởng đến tính bảo mật, tính nguyên vẹn và tính khả dụng của thông tin trên mạng, như việc tung tin thất thiệt, bôi nhọ, tuyên truyền chống Nhà nước... thì xử lý như thế nào? Thực ra Mục 4 Chương II của Luật An toàn thông tin mạng đã đề cập đến vấn đề ngăn chặn hoạt động trái phép trên mạng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, ngăn chặn hoạt động sử dụng mạng để khủng bố, nhưng giao cho Chính phủ quy định chi tiết. Đến nay, Chính phủ vẫn chưa có quy định chi tiết. Nói cách khác là Luật An toàn thông tin mạng mới bảo đảm an toàn cho người sử dụng mạng, còn việc phòng, chống, ngăn chặn việc sử dụng môi trường mạng để xâm phạm quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân, nhà nước thì chưa được cụ thể. Đây chính là sự cần thiết phải có Luật An ninh mạng. Đại biểu cũng đề nghị rà soát, thiết kế lại cho chặt chẽ hơn; bố cục như dự thảo còn dàn trải, thiếu nhất quán; giải thích từ ngữ cần nhất quán, đầy đủ hơn, cách sử dụng từ như dự thảo dễ gây nhầm lẫn, và còn nhiều nội dung trùng lắp.
Quy định rõ thời hiệu tố cáo
Thảo luận về dự án Luật Tố cáo, nhiều đại biểu quan tâm đến quy định về thời hiệu tố cáo. Theo đó, có ý kiến đề nghị nên quy định thời hiệu tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là 5 năm, kể từ ngày có vi phạm. Đại biểu Phạm Đình Cúc (Bà Rịa- Vũng Tàu) cho rằng, quy định như vậy sẽ tránh tình trạng nhiều hành vi vi phạm đã xảy ra từ rất lâu, không còn nguy hiểm, hoặc không còn ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, xã hội, công dân, nhưng cơ quan nhà nước vẫn phải xem xét, thụ lý, gây lãng phí thời gian, công sức. Đại biểu cũng đề nghị, cơ quan soạn thảo nghiên cứu cụ thể hơn, tùy theo mức độ vi phạm của hành vi vi phạm (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng) mà quy định thời hiệu cho phù hợp, chứ không nên quy định cứng là đối với vi phạm pháp luật trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ là 5 năm.
Tuy nhiên, một số đại biểu lại chưa đồng tình với quan điểm này và cho rằng, thời hiệu xử lý đối với mỗi loại hành vi vi phạm trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước đã được quy định trong các luật khác, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Tố cáo. Bộ luật Tố tụng hình sự cũng không quy định về thời hiệu tố giác, tin báo tội phạm nhằm tạo điều kiện cho người dân đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm. Do đó, Luật Tố cáo không nên quy định về thời hiệu tố cáo, chỉ nên quy định nguyên tắc không thụ lý đối với tố cáo về hành vi vi phạm đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm như quan điểm của cơ quan thẩm tra. Phải hiểu đúng bản chất của thời hiệu là để xem xét hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo có còn thời hiệu để truy tố, xử lý trách nhiệm nữa hay không, còn bản chất tố cáo không có thời hiệu. Theo đại biểu Lê Thị Yến (Phú Thọ), quy định thời hiệu tố cáo tức là hạn chế quyền tố cáo của công dân.
Đại biểu Nguyễn Hữu Cầu (Nghệ An) cho biết, để bảo vệ an toàn người tố cáo, dự thảo quy định người bị tố cáo được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi chưa có kết luận của người có thẩm quyền giải quyết tố cáo. Đồng tình với quy định trên, nhưng đại biểu cho rằng biện pháp vẫn chưa đủ. Bởi thực tiễn cho thấy, đến kỳ bầu cử, kỳ đại hội hay bổ nhiệm cán bộ, có tình trạng do động cơ “không thích thì đạp đổ”, viết đơn thư nặc danh làm hại người khác. “Được vạ thì má đã sưng”, đây là thực tế Quốc hội cần cân nhắc bảo vệ” – đại biểu lưu ý nhưng cũng nhấn mạnh người tố cáo cần được đối xử một cách bình đẳng. Đại biểu cũng đề nghị xem xét, giải quyết tố cáo cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu. Vìtrong thực tiễn xảy ra nhiều câu chuyện buồn khi nhiều cán bộ lãnh đạo cận kề thời gian nghỉ hưu đã không vượt qua sự cám dỗ bình thường, làm trái quy định, kỷ luật công vụ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Đảng và Nhà nước. Hơn nữa, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định nguyên tắc xử lý tham nhũng: người có hành vi tham nhũng đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác vẫn bị xử lý hành vi tham nhũng do mình đã thực hiện. Hiện nay, Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi, nguyên tắc này vẫn được xác lập.
Đại biểu Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) đề nghị bổ sung quy định về tố cáo, giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu khi còn là công chức bị vi phạm pháp luật mà chưa phát hiện. Theo đại biểu, mặc dù Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức chưa có quy định về việc xử lý đối với người đã nghỉ hưu, nhưng nếu không quy định sẽ bỏ sót vi phạm, dễ dẫn đến “hạ cánh là an toàn”.