Danh nhân

Các nhà khoa bảng xứ Đông trong Tao Đàn nhị thập bát tú

TÂM HÀ 24/08/2025 09:31

Hội thơ Tao Đàn do vua Lê Thánh Tông làm chủ soái, nơi vua tôi cùng xướng họa, bình thơ. Riêng xứ Đông đã có 9 vị đại khoa góp mặt.

noi-tho- vu-thuong-dap
Đình Từ Vũ, thôn Thượng Đáp thờ Bảng nhãn Ngô Hoán

Theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, tháng 11 năm Ất Mão, niên hiệu Hồng Đức 26 (1495), vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) sáng tác 9 khúc ca viết về đạo làm vua, khí tiết của bề tôi, ca ngợi vua hiền tôi giỏi, tưởng nhớ bậc anh tài. Nhân đó, vua đặt tên là “Quỳnh uyển cửu ca”, tự viết bài Tựa, tự xưng “Tao Đàn nguyên súy”, rồi tuyển chọn 28 văn thần ứng với 28 vì sao trên trời, phong họ làm “nhị thập bát tú”, truyền họa lại theo đúng vần của chín khúc ca. Trong số 28 người này, đa phần là các bậc đại khoa, giữ chức vị trong triều, song cũng có một vài vị không thuộc hàng đại khoa.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trên thực tế, hội Tao Đàn có thể đã bắt đầu hoạt động từ năm Quý Sửu (1493) – năm được mùa, khi vua Lê Thánh Tông hứng khởi sáng tác 9 bài thơ “Quỳnh uyển cửu ca” và sai 28 văn thần phụng họa.

Đầu đề của 9 bài đó là: Phong niên (Năm được mùa); Quân đạo (Đạo làm vua); Thần tiết (Tiết tháo người làm tôi); Minh lương (Vua sáng, tôi hiền); Anh hiền (Người tài giỏi); Kỳ khí (Người tài lạ); Thư thảo (Viết thảo); Văn nhân; Mai hoa (Phong cảnh).

Đến tháng 11 năm Giáp Dần, niên hiệu Hồng Đức 25 (1494), vua Lê Thánh Tông viết bài Tựa cho tập “Ngự chế Quỳnh uyển cửu ca”, cho thấy toàn bộ công việc xướng họa của tập thơ đã hoàn tất. Sang năm Ất Mão (1495), sách được khắc in và công bố, đúng như Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi chép.

Từ đó, lịch sử văn học Việt Nam ghi danh hội thơ Tao Đàn do vua Lê Thánh Tông làm chủ soái để vua tôi xướng họa, phê bình thơ, một hình thức rất mới trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật nước nhà dù thời gian hoạt động của Tao Đàn chỉ kéo dài trên 1 năm. Điều đặc biệt, trong số 28 vị tinh tú được vua Lê Thánh Tông chọn vào hội Tao Đàn thì có tới 9 vị quê ở xứ Đông (trấn Hải Dương xưa, nay thuộc TP Hải Phòng).

Đó là Ngô Hoán, người Thượng Đáp, huyện Nam Sách (nay thuộc xã Nam Sách, TP Hải Phòng) đỗ Tiến sĩ (Bảng nhãn) khoa Canh Tuất năm Hồng Đức 21 (1490), làm quan đến chức Đông các Hiệu thư.

Nguyễn Đức Huấn người huyện Chí Linh cũ (nay thuộc phường Chí Linh, TP Hải Phòng), đỗ Bảng nhãn năm Hồng Đức thứ 18 (1487), làm quan đến chức Hàn Lâm viện Thị thư.

Vũ Dương, người xã Mạn Nhuế, huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Nam Sách) đỗ Trạng nguyên năm Hồng Đức thứ 24 (1493). Năm Ất Mão Hồng Đức thứ 26 (1495), Vũ Dương đi sứ nhà Minh, sau làm quan đến Công bộ Thượng thư, tước Hầu.

Phạm Trí Khiêm, người xã Yên Trang, huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Cẩm Giang, TP Hải Phòng) đỗ Hoàng giáp khoa giáp Thìn năm Hồng Đức 15 (1484) làm quan đến chức Đông các hiệu thư.

Lưu Thư Ngạn, người huyện Vĩnh Lại (nay thuộc xã Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng) đỗ thám hoa khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1490) làm quan tới chức Hàn lâm viện Đãi chế.

Bùi Phổ, người xã Lê Xá, huyện Nghi Dương (nay thuộc xã Kiến Thụy, TP Hải Phòng) đỗ Hoàng giáp khoa Đinh Mùi năm Hồng Đức 18 (1487) làm quan đến chức Hàn lâm viện Hiệu lý.

Nguyễn Hoãn, người xã Nhân Lý, huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Nam Sách, TP Hải Phòng) đỗ Hoàng giáp khoa Quý Sửu, niên hiệu Hồng Đức thứ 24 (1493), làm quan tới chức Hàn lâm viện Hiệu lý.

Phạm Cẩn Trực, người làng Đàm Xá, huyện Trường Tân (nay thuộc phường Thạch Khôi, TP Hải Phòng), đỗ tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1484) thời Hồng Đức, từng giữ chức Hàn lâm viện Kiểm thảo, sau thăng Phụng Thiên phủ doãn.

Lưu Dịch, người xã Nại Xuyên, huyện Kim Thành (nay thuộc xã Kim Thành, TP Hải Phòng) đỗ tiến sĩ khoa Canh Tuất năm Hồng Đức 21 (1490), làm quan đến chức Hàn lâm viện Hiệu thảo.

noi-tho- vu-thuong-dap-2
Ban thờ 12 vị tiến sĩ làng Nhân Lý (nay là thôn Nhân Đào, xã Nam Sách) tại đình Nhân Lý

Quả đúng như trong phần nguyên chú của sách "Hải Dương phong vật chí" của Trần Đạm Trai (1754 - 1833) đã tổng kết: "Mũi tên bắn lọt lá dương/Đồng khoa đồng huyện sắp hàng khôi nguyên/Hội nửa ngàn phải duyên tao ngộ/Vui một đoàn cẩm tú đua rong/Tao Đàn tỏ vẻ sao đông/Canh thù khúc ngọc sênh rung tiếng vàng”. Những câu thơ ấy không chỉ ca ngợi truyền thống hiếu học, khoa bảng của mảnh đất xứ Đông, mà còn khẳng định sự góp mặt rực rỡ của các bậc đại khoa của mảnh đất này trong Tao Đàn nhị thập bát tú thời Lê Thánh Tông

Trong Hải Dương phong vật chí, Trần Đạm Trai có đoạn nguyên chú: “Tao Đàn nhị thập bát tú triều Hồng Đức, phần nhiều các vị ở huyện Thanh Lâm được dự tuyển. Họ ngâm thơ, thù phụng, sang sảng tiếng ngọc vàng”. Huyện Thanh Lâm là tên cũ của huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cũ, nay thuộc TP Hải Phòng.

Những tác phẩm thơ ca của các vị đại khoa xứ Đông còn lưu lại đến ngày nay chủ yếu được chép trong Toàn Việt thi lục, dưới dạng họa lại “Quỳnh uyển cửu ca” của vua Lê Thánh Tông. Cụ thể: Ngô Hoán có 6 bài thơ, Nguyễn Hoãn 3 bài, Vũ Dương 5 bài, Nguyễn Đức Huấn 6 bài, Lưu Thư Ngạn 9 bài, Bùi Phổ 5 bài, Phạm Trí Khiêm 1 bài và Phạm Cẩn Trực 1 bài.

Hiện nay, tư liệu lịch sử về thân thế và sự nghiệp của 9 vị đại khoa trong Tao Đàn nhị thập bát tú còn lại rất ít. Trong số đó, Bảng nhãn Ngô Hoán được sử sách ghi chép nhiều hơn cả. Ngoài con đường khoa cử hiển đạt, một số tài liệu còn cho biết: vào khoảng niên hiệu Quang Thiệu (1516 – 1521), ông theo vua vào Thanh Hóa, đến châu Lang Chánh rồi sang Ai Lao mưu việc khôi phục triều đình nhưng bất thành, nên đã tuẫn tiết.

Sau này, thời trung hưng, ông được truy phong là Suy Trung công thần, rồi lại gia phong Phúc thần. Ngô Hoán trở thành tấm gương sáng về lòng trung thành, tiết nghĩa với triều Lê. Hiện nay, nhân dân vẫn thờ phụng ông tại đình Từ Vũ, Thượng Đáp, xã Nam Hồng (nay thuộc xã Nam Sách). Di tích này đã được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia năm 1991.

Ngoài Ngô Hoán, Nguyễn Hoãn cũng được nhân dân thờ vọng tại đình Nhân Lý cùng với Thành hoàng làng và 11 vị đại khoa của làng.

Có thể thấy, 9 vị đại khoa xứ Đông chính là những vì sao sáng trong nhị thập bát tú của Tao Đàn, đã để lại dấu ấn nhất định trong hoạt động thi ca cung đình. Cùng với các văn thần khác, những sáng tác của họ không chỉ góp phần làm rạng rỡ nền văn chương thời Lê Thánh Tông mà còn tạo nên một dòng chảy đặc sắc trong lịch sử thi ca Đại Việt, phản ánh khí thế thịnh trị và văn hiến của quốc gia ở thế kỷ XV.

TÂM HÀ
(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Các nhà khoa bảng xứ Đông trong Tao Đàn nhị thập bát tú