Cái bi đông kỷ niệm

20/02/2017 10:52

Nguyễn Thụy Kha

Nó là “bình cay” mà tôi đã uống liên tục cùng Nguyễn Trọng Tạo, Đặng Ái, Phan Lạc Hoa, Phan Long, Ngọc Tân. Rồi uống với Ngô Thảo, Thu Bồn, Nguyễn Duy, Hoàng Hưng. Lúc đó, Ngô Thảo là láng giềng của tôi ở 60 Hàng Bông. Chúng tôi lúc thì uống ở nhà Ngô Thảo, lúc thì trên căn gác nhà tôi. Bên cạnh đó là những Trần Vũ Mai, Lê Hiển, Định Nguyễn, Trúc Cương, Đào Thái Tôn … Đấy là thời kỳ nhà 60 Hàng Bông ngày nào cũng là Tết. Các nữ sĩ như Dương Thu Hương, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây, Ngô Thị Kim Cúc, Ý Nhi … cũng luôn có mặt để nhắp rượu rót từ chiếc bi đông lính tráng này. Các bạn ở các tỉnh ra Hà Nội “tá túc” tại nhà tôi như Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tạo (lúc ấy đã về khu 4), Thanh Tùng, đều có nhiều trận say sưa rót rượu từ cái bi đông này. Các thầy trong trường như Hoàng Ngọc Hiến, Khái Vinh, Nguyễn Đăng Mạnh, Hồ Ngọc Đại, Trần Quốc Vượng, Phạm Hoàng Gia … cũng thường tới căn gác để thù tạc và chuyện trò thâu đêm. Từ khi tôi được quen Đặng Đình Hưng, Văn Cao, hai ông cũng hay qua căn gác này uống rượu. Các nhà thơ Xuân Diệu, Tế Hanh, Trinh Đường cũng không ít lần nghiêng ngả bên cái bi đông. Mùa thu 1983, Trịnh Công Sơn và Trần Long Ẩn ra Hà Nội dự Đại hội nhạc sĩ, căn gác lại thường đón các anh với Bùi Xuân Phái, Hồng Đăng, Thái Bá Vân, Nguyễn Tấn Cứ, Đào Hùng, Lê Dưỡng Hạo …

Trên căn gác này, trong hơi men từ cái bi đông, Trịnh Công Sơn tìm ra được câu hát “Mái ngói thâm nâu” cho bài “Nhớ mùa thu Hà nội”, Bùi Xuân Phái thì ký họa sóng nhà. Thanh Thảo và Nguyễn Trọng Tạo có nhiều bài thơ làm từ căn gác sau những cơn say. Thái Bá Lợi và Trung Trung Đỉnh tìm được các dự định tiểu thuyết. Nguyễn Quân uống vào loại “cực siêu” rồi về vẽ tranh và viết phê bình. Cái bi đông của tôi luôn luôn được dốc ngược, rồi lại nạp đầy. Có khi là Nguyễn Trung Đức mang rượu quê tới trút vào để rồi cùng nhâm nhi với “Trăm năm cô đơn”, “Tình yêu thời thổ tả” của G.Market. Nhiều, nhiều lắm những cuộc uống, những tranh luận, những cãi cọ nảy lửa, có lúc là xô xát. Vào thời gian ấy bắt đầu có những văn nghệ sĩ, nhà báo Việt kiều về nước đến căn gác 60 Hàng Bông thù tạc, như Thu Trang, Nguyễn Hồi Thủ. Rồi Phước (Canada), Phúc (Tây Đức), Bạch Thái Quốc (Pháp), Đỗ Kh. (Mỹ) … Từ Đặng Đình Hưng và Văn Cao, có thêm các đàn anh Mai Văn Hiến, Phạm Văn Khoa, Lê Chính … đến vui vẻ ở căn gác. Dù từ xuân 1985, tôi đã chuyển sang uống vodka và cognac Nga nhiều hơn, nhưng cái bi đông vẫn đầy rượu để chiều các “tửu đồ” chỉ thích “cuốc lủi”. Đặc biệt là Văn Cao. Ông đến lần nào cũng có cậu con trai Văn Thanh và bà Băng đi theo để hộ tống những lúc ông “phiêu bồng”.

Sang thời đổi mới, cái bi đông lại chứng kiến thêm những gương mặt văn nghệ mới như Nguyễn Huy Thiệp, Trịnh Thanh Sơn, Phùng Gia Lộc … Bế Kiến Quốc tuy không uống rượu nhưng vẫn thường xuyên có mặt trong các cuộc rượu từ đầu thập niên 80 và luôn dẫn theo các gương mặt trẻ đáng yêu như Trần Hòa Bình, Bùi Quang Thanh … và rất ấn tượng là Nguyễn Quang Thiều. Có các đàn anh lúc ấy mới chính thức góp mặt vào các cuộc thù tạc ở 60 Hàng Bông như Trần Dần, Hoàng Cầm, Phùng Quán, Lê Đạt, Hữu Loan. Hữu Loan ở ngay trên căn gác ấy và có lúc say, ôm cái bi đông rỗng không gối lên mà ngủ.

Có lần, cái bi đông của tôi trở thành đạo cụ trong phim tài liệu truyền hình về Văn Cao. Cuối năm 1991, ông Nguyễn Ngọc Hà thay mặt Hội Việt kiều ở Pháp đặt tôi làm phim về Văn Cao. Tôi đã đưa Văn Cao về Đồ Sơn để quay hình ông ngồi bên biển. Cái bi đông đựng đầy rượu cũng được mang theo. Có một cảnh Văn Cao dốc bi đông rượu để uống, sau đó, ném bi đông ra biển rất ngoạn mục. Do bi đông rỗng nên sau đó, sóng biển lại đưa nó vào bờ.

Từ những năm 90, tôi phục viên về làm báo tự do, căn gác lại càng đông anh em đến tụ bạ như Chu Hoạch, Tạ Quốc Chương … Cũng thời gian ấy, tôi được gặp Nguyễn Hữu Đang. Trong thời gian diễn ra đại hội nhà văn lần thứ 5 (mùa xuân 1995), cái bi đông lại chứng kiến nhiều anh em nhà văn ngồi trên căn gác nhà tôi, bàn chuyện lấy lại trại sáng tác Quảng Bá lúc đó đã bị bán cho một công ty của Úc để xây khách sạn. Cuộc đấu tranh thành công, trại sáng tác trở thành Bảo tàng Văn học Việt Nam từ đấy.

Từ một cái bi đông đựng nước những ngày tháng chinh chiến, trở thành cái bi đông đựng rượu trong những ngày tháng làm văn nghệ của tôi thời bình, cái bi đông đã trở thành kỷ vật duy nhất đời lính mà tôi giữ lại cho tới hôm nay khi đã vào tuổi “nhân sinh thất thập”. Nó đã trở thành một người bạn nhỏ lặng im chứng kiến thăng trầm của tôi qua bao nhiêu năm đã lùi xa. Nó vẫn đứng khiêm nhường trong góc tủ nhà.

(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Cái bi đông kỷ niệm