(HPĐT)- Câu hát thôi thúc nhiều người tìm đến với đảo Cát Bà của thành phố Hải Phòng. Tôi ước mơ một lần đặt chân đến đảo Cát Bà và ước mơ đó nay thành hiện thực. Và tôi không chỉ nghe nói nữa mà được chứng kiến tận mắt vùng đất biển đảo Cát Bà để nhìn thấy biển trời bao la, chủ quyền của Tổ quốc Việt Nam thân yêu. Để có một chuyến ra thăm đảo Cát Bà, chúng tôi phải trải qua một hành trình không mấy dễ dàng. Cái khoảnh khắc mong chờ được đặt chân lên đảo cứ dào dạt trong lòng.
“Ai đã đi qua khó quên những chiều Cát Bà.
Cô nữ dân quân sớm chiều trên tuyến đảo
Tay súng sẵn sàng không buông rời tay lưới.
Anh chiến sĩ nâng bước tuần tra trên miền quê đất nước.
Đảo quê hương đảo yêu thương”. (1)

Vịnh Bến Bèo nhìn từ trên cao. Ảnh: Hồng Phong
Từ Bến Bính (Hải Phòng), chúng tôi đi tàu cao tốc mất khoảng 45 phút đến đảo Cát Bà. Khi tàu bắt đầu khởi hành, trong mỗi chúng tôi đều cảm thấy bồi hồi, háo hức. Tiếng sóng biển vỗ mạn tàu, những luồng gió biển êm dịu làm chúng tôi cảm thấy êm ái dễ chịu chỉ muốn nhanh chóng đặt chân đến đảo Cát Bà để được khám phá vẻ đẹp thiên nhiên kỳ thú của hòn đảo này.
Đảo Cát Bà cách cảng Hải Phòng 30 hải lý, nằm ở phía Nam vịnh Hạ Long. Trước đây đảo Cát Bà thuộc huyện Cát Bà được thành lập ngày 22-7-1957, đến năm 1977 sáp nhập huyện Cát Bà với huyện Cát Hải thành huyện Cát Hải ngày nay. Cát Hải được coi là khu vực phòng thủ về quốc phòng – an ninh và là cửa ngõ ra vào khu vực phía Đông Bắc. Với tiềm năng thiên nhiên về rừng, biển phong phú, Cát Hải có những điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành kinh tế du lịch – dịch vụ, thuỷ sản, lâm nghiệp. Sách Đại Nam nhất thống chí đã ghi: “... Một vùng núi non dựng lên như ngọc, cá tôm nhiều như đất, dân đua nhau thu lượm”. Cũng bởi vậy, đảo Cát Bà được mệnh danh là “hòn ngọc của vịnh Bắc bộ”.
Đời sống của cư dân ở đảo Cát Bà cũng như cơ sở hạ tầng trong những ngày đầu mới thành lập huyện đảo có nhiều khó khăn, thiếu thốn... Thế nhưng, sau 45 năm sáp nhập và phát triển, bằng nội lực sẵn có và sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, huyện đảo Cát Hải đổi mới, từng bước thay da đổi thịt. Thị trấn Cát Bà đổi thay và phát triển nhanh về cơ sở hạ tầng, điện, đường. Ngày nay, hệ thống đường giao thông trên đảo cải thiện nhanh chóng, các tuyến vận chuyển hành khách từ đất liền ra đảo và ngược lại bằng đường hàng hải thuận tiện. Đặc biệt, huyện đảo Cát Hải được kết nối với hệ thống điện lưới điện quốc gia góp phần thay đổi bộ mặt huyện đảo. Năm 1998, điện lưới được kéo ra đảo Cát Bà, một vùng đảo đá bừng lên sáng ngỡ ngàng và đẹp lung linh như hòn ngọc được mài giũa.
Đi một vòng quanh đảo, chúng tôi ngỡ ngàng khi được nhìn thấy những ngọn núi còn nguyên sinh, những di tích lịch sử và những loại hải sản như tu hài, cá giò, ghẹ, bề bề, hàu…. Cảm giác thú vị khi được rong ruổi trên vịnh Lan Hạ, ghé vào các bè nuôi hải sản, hay những tùng, áng nơi người dân nuôi tu hài để được tự tay vớt lên sản phẩm còn tươi nguyên.... Ngoài ra, Cát Bà còn có những tảng đá lớn, những bãi san hô tuyệt đẹp mà chúng tôi không thể bỏ qua và ghi lại những khoảnh khắc tuyệt diệu ấy. Chỉ thế thôi cũng cảm nhận được sự kỳ diệu của thiên nhiên, những con người sống và làm việc trên đảo này.
Trước khi ra đảo Cát Bà, tôi được nghe kể Cát Bà là nơi nhiều dấu tích lịch sử. Chuyện rằng: Ngày xửa ngày xưa, không rõ là vào thời kỳ nào, có hai nữ thần chết trẻ không biết từ đâu trôi dạt vào đảo và được bà con ngư dân đắp thành hai ngôi mộ. Trong đêm ấy, các nữ thần hiển linh, báo mộng cho các vị chức sắc và dân chúng trên đảo biết về sự linh ứng của mình. Dân chúng bèn đóng góp tiền của, lập miếu thờ hai nữ thần ngay bên hai nấm mộ thiêng này, gọi là miếu Các Bà. Sau khi lập miếu thờ, những năm tháng sau đó, ngư dân trên đảo không gặp các tai nạn trên biển như trước, đời sống không có dịch bệnh hoành hành, không bị giặc ngoại xâm và cướp biển quấy nhiễu, dân trên đảo hưởng cuộc sống ấm no, thái bình. Tâm nguyện người dân trên đảo đều cho rằng đó là do các nữ thần hiển linh phù hộ.
Còn có truyền thuyết khác gắn liền với lịch sử giữ nước của dân tộc. Trong cuộc chiến chống giặc xâm lược Nguyên Mông, Hưng Ðạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn chọn vùng biển Ðông Bắc làm nơi tập kết, luyện quân và tích trữ lương thảo. Những hang động trong vùng biển này đều được huy động vào việc cất giấu quân lương, che ém tàu thuyền. Vùng biển phía Hạ Long được chọn làm khu vực quân sự - ngày nay còn hang Dấu Gỗ, tương truyền là nơi quân ta cất giấu những chiếc cọc gỗ bịt sắt, góp phần làm nên chiến thắng Bạch Ðằng lịch sử. Còn vùng biển phía vịnh Lan Hạ là nơi tích trữ lương thảo, chăm sóc y tế, là khu vực do các bà cai quản. Vì thế mà có tên là cửa Ðức Ông, đảo Các Bà, sau gọi chệch thành Cửa Ông, Cát Bà.
Ngày nay, trên thị trấn Cát Bà còn nhiều di tích văn hóa, lịch sử lâu đời như: đền thờ các bà trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm phương Bắc. Hòn cẩm thạch của làng Gia Luận từng là nơi tập kết giấu cọc gỗ lấy từ Vân Đồn để góp phần làm lên chiến thắng quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng Giang của Ngô Quyền năm 938. Tại xã Xuân Đám còn lại một phần kiến trúc bức tường thành xếp đá được xây dựng từ thời nhà Mạc thế kỷ 16.
Nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh từng về thăm
Cách đây 63 năm, ngày 31-3-1959, đảo Cát Bà vinh dự được Bác Hồ về thăm và động viên bà con ngư dân làng cá Cát Bà - Cát Hải. Trong chuyến thăm đảo Cát Bà và Cát Hải, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành nhiều thời gian tiếp xúc, gặp gỡ với nhân dân huyện đảo. Người căn dặn: “Rừng là vàng, biển là bạc, rừng biển của ta do nhân dân ta làm chủ, phải ra sức khai thác, bảo vệ, phải đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để đời sống nhân dân ngày một ấm no, hạnh phúc”. Thấm nhuần lời dạy của Bác, trong suốt 63 năm qua, mặc dù trải qua những cam go khốc liệt của chiến tranh, song Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Cát Hải không ngừng khắc phục khó khăn, kiên cường, quả cảm bảo vệ đảo, đồng thời từng bước xây dựng quê hương theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Bác Hồ kính yêu lựa chọn.
Bên cạnh phát triển kinh tế, các làng biển đảo Cát Bà còn lưu giữ nét văn hóa, nếp sinh hoạt độc đáo của cư dân vùng biển. Lễ hội đua thuyền rồng trên biển là một nét văn hoá riêng có tại đảo Cát Bà. Dân đi biển Cát Bà thường tổ chức đua thuyền rồng khi kết thúc vụ cá Bắc, mở đầu vụ các Nam vào ngày 14 dương lịch (ngày Bác Hồ về thăm Cát Bà năm 1959). Ngày đó khi đến thăm đảo Cát Bà, Bác nói chuyện với ngư dân, Bác khuyên: “Ngư dân phải khỏe mạnh hơn nữa mới đi được biển... nghề cá ở đảo rồi đây phải đưa máy móc vào. Đảng và Chính phủ sẽ giúp đỡ bà con sắm thuyền, lưới tốt hơn để phát triển sản xuất”.
Để ghi nhớ sâu sắc hình ảnh và tình cảm của Bác dành cho huyện đảo, ngày 1-4 trở thành ngày hội truyền thống của nhân dân đảo Cát Bà. Hằng năm, huyện đảo tổ chức kỷ niệm Ngày Bác Hồ về thăm làng cá với nhiều hoạt động sôi nổi, tiêu biểu là hội đua thuyền rồng trên biển với sự tham gia của các địa phương trên đảo. Những ngày diễn ra lễ hội, huyện đảo như được khoác lên mình một lớp áo mới với đủ màu sắc của cờ hoa, của biển trời xanh trong như ngọc.
Làng chài Cái Bèo, làng chài cổ nhất Việt Nam
Đến với đảo Cát Bà còn có những nơi khác thú vị mà tôi không thể bỏ qua và ghi lại những khoảnh khắc tuyệt diệu ấy đó là khám phá làng chài Cái Bèo (hay còn gọi là làng chài Vụng O), nằm trên vịnh Lan Hạ, là làng chài cổ nhất Việt Nam. Có khoảng 300 hộ dân sinh sống trên các ngôi nhà được thiết kế trên những chiếc phao.
Nếu như cách đây không lâu, làng chài Cái Bèo chỉ là một xóm nhỏ ven biển, cuộc sống chật vật, khó khăn thì về làng chài Cái Bèo hôm nay xóm biển đã có nhiều đổi thay. Cái Bèo đã vươn dậy thành một vùng đất giàu có tiềm năng, thể hiện quyết tâm bảo vệ, giữ vững chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Rất nhiều cảnh đẹp, cảnh thuyền bè tấp nập, hương vị của biển và những bè cá nuôi các loài thủy hải sản từ quen thuộc đến lạ mắt là những gì tôi bắt gặp và khám phá ở làng chài này. Hòa vào nhịp sống nơi đây, mỗi người đều có thể tận hưởng sâu sắc nhịp sống vùng biển. Không có gì thú vị hơn là được ngồi đò vừa ngắm nhìn vẻ đẹp như bức tranh thủy mặc của Cái Bèo theo tiếng mái chèo khua nước, vừa được lắng nghe những chia sẻ thú vị và gần gũi về làng chài qua câu chuyện của người lái đò. Mạnh dạn kết giao với một người dân bản địa, mặc dù họ rất bận bịu với công việc của mình nhưng sẵn sàng hồ hởi chia sẻ những câu chuyện thú vị trong đời, nghe họ cười và kể cho bạn nghe về cuộc sống lênh đênh trên biển, bỗng thấy tình yêu dành cho mảnh đất này thêm sâu đậm.
Nghề chính của họ sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt và nuôi hải sản. Đối với họ, mỗi chuyến ra khơi thường mang theo nhiều hy vọng đem về nhiều lộc biển. Và sau những chuyến đi biển, vào mỗi sáng tinh sương, hải sản từ những tàu cá lại đổ về chợ cá Cát Bà, từng mẻ cá, mực, tôm, ghẹ tươi ngon. Bình minh trên chợ cá Cát Bà thật nhộn nhịp. Khi mặt trời ló rạng, chợ cá Cát Bà họp từ sáng tinh mơ luôn ồn ào, tấp nập người mua, người bán. Đây là nơi diễn ra hoạt động trao đổi, mua bán hải sản, nhộn nhịp sau mỗi chuyến ngư dân đi biển trở về.
Ngoài giá trị về đa dạng sinh học, sinh thái, địa chất, địa mạo, khu dự trữ sinh quyển,… trên quần đảo này còn có hệ thống hang động, đảo đá, bãi cát, di tích lịch sử và khảo cổ, có rất nhiều danh lam thắng cảnh đẹp làm say đắm bao người./.
-----------------------------
(1) Bài hát: Chiều Cát Bà, Nhạc: Văn Lương, thơ: Văn Cương
(*): Bài viết hưởng ứng Cuộc thi sáng tác về hành trình đề cử Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long – Quần đảo Cát Bà
LÊ THỊ THU THANH