Sự ra đời khu phố Pháp tại Hải Phòng
Năm 1872, Pháp đánh chiếm vùng đất Ninh Hải - Hải Phòng ngày nay. Sau hiệp ước Giáp Tuất, những năm 1874 - 1888 là thời kỳ hình thành khu phố Pháp - có thể coi như đặt nền móng thành phố Hải Phòng. Nhưng giai đoạn 1897 - 1914 mới là thời kỳ xây dựng Hải Phòng thành một thành phố cảng biển và công nghiệp quan trọng của miền Bắc. Trong quá trình hình thành và phát triển khu phố Pháp tại Hải Phòng, không thể không chú ý tới yếu tố sông nước trong việc tạo dựng cấu trúc đô thị và hình thái các tuyến phố.
Đặc điểm địa hình của Hải Phòng những năm cuối thế kỷ XIX là vùng đất gần biển với nhiều sông lớn nhỏ chảy ra biển. Cũng giống như với Hà Nội, người Pháp tiến chiếm Hải Phòng từ phía sông bằng tàu chiến và đòi hỏi khu nhượng địa ven sông Cấm - ban đầu 2 ha, đến năm 1875 mở rộng lên 7 ha. Từ cơ sở quân sự - hậu cần ban đầu này, người Pháp tiến hành xâm lấn sâu hơn để giành quyền kiểm soát thêm đất đai, mở mang phố xá, xây dựng các công trình kiến trúc phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa của mình.
Thời Pháp thuộc, Hải Phòng được Toàn quyền Đông Dương xếp loại thành phố cấp 1 ngang với Hà Nội và Sài Gòn. Khu trung tâm Hải Phòng mang đậm dấu ấn kiến trúc Pháp, tuy tương đối giống với Hà Nội về tổng thể, nhưng khiêm tốn hơn về quy mô và số lượng các công trình. Nhìn chung, các tòa nhà được người Pháp thiết kế và xây dựng khá kỹ lưỡng, có nhiều nét kiến trúc phong phú, đến nay vẫn là nhưng công trình có dấu ấn quan trọng trong bộ mặt kiến trúc đô thị của thành phố Hải Phòng.
Sự phát triển cấu trúc tổng thể khu phố Pháp tại Hải Phòng qua các giai đoạn
Hải Phòng những năm 70 của thế kỷ XIX được cấu thành bởi hai bộ phận chính. Phía Tây Nam giáp sông Tam Bạc là khu người Việt và Hoa kiều mà trước đây người Pháp thường gọi là "khu bản xứ", gồm một số cơ quan quân sự, kinh tế của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn cùng với một số phố sá và nhà dân. Phía Bắc giáp sông Cấm là khu tô giới (thường gọi là khu nhượng địa) do Pháp cai quản mà hạt nhân là Sở Thuế đoan, Toà lãnh sự và đồn binh; đồng thời tại đó cũng dần dần xây lên những kiến trúc đô thị hiện đại đầu tiên của Hải Phòng. Xem xét các bản đồ còn lưu trữ được, a có thể tìm thấy nhiều thông tin lý thú và hữu ích về sự phát triển cấu trúc tổng thể khu phố Pháp tại Hải Phòng qua các giai đoạn lịch sử:

Nhà máy xi măng Hải Phòng và hệ thống sông nước cận kề góp phần tăng năng lực vận chuyển đường thủy, tạo điều kiện để Hải Phòng dưới thời Pháp thuộc phát triển thành một thành phố công nghiệp - cảng biển quan trọng của miền Bắc.
- Năm 1874: Sau khi Pháp chiếm vùng đất Ninh Hải (1872), ở thời điểm đó vẫn là các làng cổ Gia Viễn, An Biên. Khu nhượng địa cho Pháp được khoanh vùng ở sát ngã 3 sông Cấm và sông Tam Bạc.
- Năm 1885: Năm 1884 Pháp xây dựng Tòa lãnh sự, từ năm 1885 bắt đầu xây dựng nhà cửa lớn theo kiểu châu Âu. Trên bản đồ, đã thấy có nhiều công trình kiến trúc, song đường sá vẫn chưa có sự quy hoạch rõ ràng, đa phần là tự phát theo hiện trạng. Dần dần hình thành khu phố bản xứ ở phía Tây -Nam ven sông Tam Bạc và khu của người Pháp ở phía Bắc ven sông Cấm.
- Trước năm 1900: Năm 1885, công sứ Bonnal cho đào kênh vành đai (kênh Bonnal) rộng 74m, nối sông Tam Bạc với sông Cấm, tách khu của người Pháp cùng khu phố bản xứ (chủ yếu của người Hoa) khỏi các làng của người Việt ở phía Nam. Đường xá đã được thiết lập theo mạng ô cờ, tuy nhiên không vuông vắn tuyệt đối. Khu phố bản địa ở mỏm sông Tam Bạc cũng đã được can thiệp về quy hoạch (với một trục chính và các nhánh xương cá nối ra đường ven sông / kênh).
- Trước năm 1902: Chỉ trong một thời gian ngắn, người Pháp phát triển đô thị Hải Phòng sang bờ Nam kênh vành đai với việc kéo dài trục đường Paul Bert (nay là Điện Biên Phủ) và Amiral Courbet (nay là Hoàng Văn Thụ), có trường đua ngựa (nay là khu vực Sân vận động Lạch Tray). Trong quy hoạch nhấn mạnh 3 trục chính: Felix Faure (Nguyễn Tri Phương ngày nay - ranh giới khu nhượng địa trước đây) và 2 trục vừa kể trên.
- Năm 1905: Đường sắt Hà Nội - Hải Phòng đã được xây dựng. Ga Hải Phòng được bố trí ở phíaNam kênh vành đai, tức là ở ngoại vi của khu phố Pháp lúc đó. Điều này thể hiện sự khoa học trong việc bố trí giao thông đường sắt không cắt ngang đô thị, và sau đó còn được kéo dài tới cảng (bến 6 kho).
- Năm 1915: Có thêm nhiều trục đường xương cá được mở ra vuông góc với kênh vành đai ở bờNam. Hình thái các tuyến phố nhỏ này có thể cho phép đưa ra kết luận rằng kênh vành đai là một tác nhân hình thành hình dạng các ô phố và hướng tuyến phố ở lớp ô phố thứ 2 được phát triển sau này ở bờNam kênh vành đai. Các ô phố này được giới hạn bởi đường sắt.
- Năm 1926: Trước đó, năm 1925, người Pháp đã cho lấp phần lớn kênh vành đai và cải tạo thành dải vườn hoa. Lớp ô phố thứ 3 được quy hoạch tiếp tục phát triển vượt qua đường sắt xuống phíaNam và ĐôngNam, đưa đường sắt (lúc này đã được kéo dài tới cảng) lọt vào trong lòng đô thị. Có thể thấy từ hình dạng bẻ chéo của các ô phố tạo góc vuông tương ứng với tuyến cong của kênh vành đai và tuyến đường sắt. Phía Tây Bắc, trục Paul Bert đó được phát triển sang phía Tây qua Hạ Lý đến nhà máy Xi măng và sau đó nối vào đường đi Hà Nội.
- Năm 1935: Những dự kiến quy hoạch mở rộng của người Pháp xuống vùng phíaNam và ĐôngNam đường sắt không thực hiện được. Có thể do bối cảnh kinh tế xã hội bản địa và cả ở chính quốc và do cả sự va đập với các khu vực dân cư địa phương - lúc này đã có mật độ cư trú dày hơn. Bản thân sự hiện diện của tuyến đường sắt cũng là một rào chắn khống chế sự phát triển các tuyến phố cắt ngang từ trung tâm tỏa ra.
- Hải Phòng 2008: Sau này, hầu như không có sự quy hoạch lại hay phát triển nào đáng kể, cũng không thực hiện được việc quy hoạch vuông vắn các ô đất tiếp nối với khu phố Pháp hiện hữu. Nếu trước đây người Pháp thực hiện được lớp ô phố thứ ba thì hình thái tuyến phố và ô phố các quận nội thành như Lê Chân, Ngô Quyền ngày nay có thể khác (vuông vắn hơn, các ô đất đô thị sẽ được phân chia đều đặn hơn).
(Theo Tạp chí Kiến trúc Việt Nam)