(HPĐT)- Truyện là một khoảng ký ức không thể nào quên với những ai từng có những năm tháng làm “lính Trường Sơn”. Dù Trường Sơn quá quen thuộc trong trái tim mỗi người Việt Nam thì khi đọc “Cây đại học” vẫn thấy một Trường Sơn của Nguyễn Trọng Luân hiện lên đầy sinh động và bi tráng. Vẫn là chuyện về những binh trạm, những chàng trai xẻ núi, những cô gái băng rừng, những bom rơi đạn nổ, những mất mát hy sinh… Nhưng “Cây đại học” có những chi tiết đắt giá chưa có tác phẩm nào nhắc đến. Phải là người trong cuộc, người từng có những trải nghiệm như tác giả mới có thể tạo nên những giá trị thẩm mỹ cho những trang viết khắc khoải, thấm đẫm tinh thần nhân ái như thế. Rưng rưng xúc động và bâng khuâng thương tiếc sẽ là cảm giác chung của bạn đọc sau khi đọc đến dòng cuối của thiên truyện này. - (Nhà văn Nguyễn Đình Tú)

Lần thứ hai Nguyễn Kháng quay lại Trường Sơn, năm ấy đã là năm 1971.
Mùa khô khiến Trường Sơn đẹp hơn rất nhiều so với lần đi vào tháng 8 năm 1966, đi trong mưa.
Nguyễn Kháng quay ra học kỹ thuật đường ống khi đang là B phó 12 ly 7 bảo vệ đường dây 559. Chàng trai người Quảng Bá, Hà Nội chưa kịp thực hiện ước mơ của cha mẹ là cưới vợ thì lại quay vào Trường Sơn. Cái mác lính sinh viên gắn vào anh chuyến hành quân lần thứ hai ấy.
Tối đầu khi về đơn vị của mình ở gần trạm X là mùa khô. Đơn vị mới, lính mới, cán bộ mới, mọi sự hoạt động đều dựa vào đường dây 559. Lúc còn ở miền Bắc, Nguyễn Kháng cũng về thực tập ở trạm đường ống Bãi Cháy. Ở đó Kháng thực sự ngạc nhiên về những cô gái đường ống xăng dầu vừa xinh xắn vừa dũng cảm. Chiến tranh giặc giã khiến con gái cũng ra trận, lăn lóc cả với những nghề da chì rụng tóc. Ngày ấy, những đêm ở Đông Bắc nghe các học sinh Trung cấp Vật tư hò đêm. Kháng cũng hơn một lần đi hò.
Hò:
–Ơi em cô gái xăng dầu
Có về Hà Nội làm dâu thì về.
Anh chỉ đùa thế thôi, lập tức có cô gái đáp lại giọng “lờ” và “nờ” lẫn lộn. Đáp lại rằng:
–Bao giờ Mỹ cút Ngụy thua
Em về anh có đón đưa không “lào”?
Đừng chê má thắm mùi dầu
Tóc thơm “ná” xả xăng “lào” thơm hơn…
Tiếng cười của các cô gái đường ống Trường Vật tư lan vào đêm. Trời Đông Bắc có mùi gió biển từ vịnh Hạ Long mươn mướt.
Hôm nay trên đường đi trinh sát tuyến ống, Nguyễn Kháng lại nhớ đến những cô gái đường ống ấy. Ngoài kia đường ống đã vươn gần hết đất Trị Thiên. Cấp trên nóng lòng đặt trạm đẩy cho lối ngã ba về Quảng Nam của Nguyễn Kháng. Cán bộ binh trạm cùng đi với Kháng nói:
– Không có cách nào khác là tuyến trạm này phải cho ống leo qua chỗ cây Đại học anh Kháng ạ.
Kháng ngạc nhiên.
– Cây Đại học? Chỗ nào?
– Chỗ suối đá, lối tắt lên trạm đó. Dốc, nhưng tránh qua vực sâu. Chỗ ấy bộ đội chỉ hành quân mùa khô thôi. Mùa mưa lại tránh, đi đường khác.
Nguyễn Kháng cùng bộ phận trinh sát tuyến đến suối đá cây Đại học. Hôm ấy mùa khô. Buổi sáng trời trong veo. Cái suối đá là một khe lõm đầy đá tảng ngược lên núi. Đây chính là đoạn đường hành quân của bộ đội đi vào. Bao giờ đến đây họ cũng nghỉ giải lao để vượt dốc. Chính chỗ bộ đội hay ngồi nghỉ khiến những phiến đá nhẵn bóng ấy có một cây cao mọc từ giữa suối vươn lên trời. Cây gì chả biết, vì nhìn ngước lên mệt lắm. Lần đầu tiên thấy một cây cổ thụ giữa rừng nguyên sinh đầy những vết khảm vào thân cây tên người, tên trường học khiến Nguyễn Kháng lạnh toát người. Kháng sờ tay lên những dòng chữ trên thân cây sạm nâu túa nhựa thâm đen lại. Đã hai lần đi Trường Sơn, Kháng không lạ gì những tên người, tên quê hương khắc vào thân cây trên đường. Nhưng hôm nay Nguyễn Kháng chỉ thấy tên người và tên trường đại học trên gốc cây này. Những dòng tên cao lên đến 2 mét thì dừng lại. Chắc những người lính vì vội hành quân không thể công kênh nhau lên cao nữa mà ghi tên mình. Theo ngày tháng khắc trên thân cây, Nguyễn Kháng tìm ra một chi tiết, đó là cái tên khắc sớm nhất là “Trần Khắc X… Đại học Kinh tế Kế hoạch.” Kháng nhận ra hầu hết các trường đại học miền Bắc đều có tên ở đây. Mỗi tên trường mỗi khác về kích cỡ chữ. Kháng nhận ra trường Sư phạm thì chữ khắc nghiêm túc chân phương, trường Kiến trúc thì bay bướm đẹp đẽ, trường Bách khoa thì viết tắt tài hoa… Tay anh dừng lại ở cái tên “Quốc Yên… Đại học QS.” Đây rồi, trường của mình đây rồi. Nước mắt trào ra hệt như ngày trở về từ Trường Sơn lần trước, khi anh xuống ga Hà Nội.
Đêm hôm ấy anh trở lại suối đá có cây Đại học. Quỳ xuống gốc cây anh nói một mình.
– Các bạn ơi! Các anh ơi! Những cái tên này liệu ai còn trên mặt đất, ai đã nằm trong lòng đất. Hãy chứng giám cho tôi. Tôi có nên đặt đường ống leo qua dốc đá này không? Nếu đồng ý cho tôi tắc kè chẵn. Không đồng ý thì cho nó kêu lẻ. Tôi Nguyễn Kháng Đại học QS đây các anh ơi.
Đúng lúc ấy rừng như im gió có tiếng tắc kè khô khốc vang lên. Nó kêu đến 6 tiếng thì dừng lại. Nguyễn Kháng ngửa mặt lên giời, những chòm sao li ti màu tim tím. Lần đầu Nguyễn Kháng nhận ra những vì sao và cả ánh trăng nữa ở Trường Sơn có màu tím.
*
Khi đường ống xăng dầu lúc chìm, lúc nổi, lúc chui qua suối, lúc chìm vào rừng cây, vươn qua dốc có cây Đại học thì cũng là lúc đường hành quân của bộ đội phải đi lối khác. Đã qua một mùa mưa dòng suối tóe tung bọt đập vào thân cây Đại học reo vu vu suốt mấy tháng trời. Sang mùa khô con suối lại trơ ra trắng phơ phơ đầy những bướm vàng, bướm trắng bay rối tung lên. Nguyễn Kháng vẫn qua lại đây kiểm tra đường ống mặc dù đường ống cách cây Đại học cả trăm mét ẩn mình dưới rừng già.
Mùa khô năm 1972, địch đánh dữ dội cả đêm cả ngày. Chúng quyết băm nát đường cung cấp xăng dầu từ miền Bắc vào đến cực Nam Trung bộ của quân ta. Lúc ấy, trạm của Kháng bổ sung hai cô gái lắp đặt và sửa chữa cơ khí ở hậu phương vào. Một cô tên Phượng, một cô tên Dịu, đều là dân Nam Hà. Khỏi phải nói cả trạm thích thú như thế nào. Chỉ có Nguyễn Kháng là lo. Chịu, chả thể biết anh lo về cái gì. Có một thứ của quý mà các cô gái mang vào là 2 cuốn truyện “Mẫn và tôi” và “Dấu chân người lính” vừa ra đời năm 1972. Cũng không hiểu ai mách cho các cô gái mà trong ba lô mỗi cô có nửa cân thuốc lá sợi Đình Bảng. Lính Trường Sơn thì bảo, thuốc lá hay thuốc gì gì nữa cũng không bằng hình bóng các cô gái nơi đây. Chiến chinh làm cho các chàng tráng sĩ hiểu ra rằng một nửa khác giới mới quan trọng nhất cho những chiến công.
Trạm tiếp sức xăng, dầu của Nguyễn Kháng là một loạt những căn hầm trên đỉnh điểm cao. Hầm quan trọng nhất là hầm đặt máy nổ và hầm chôn dầu nhớt phụ kiện cho máy. Tất cả hầm đều nửa chìm nửa nổi. Có những lúc hầm của trạm lẫn vào trong mây. Có những lúc lại đầy tiếng chim hót và cả những chú khỉ nghịch ngơm nhảy vờn trên tán lá rừng. Hầm họp tập trung của trạm to bằng bốn cái chiếu đôi, có ảnh Bác Hồ. Hầm cho hai cô gái được đào sâu hơn và có vài chùm hoa phong lan treo ngoài cửa. Hầm mấy anh đàn ông thì ở cùng với trung đội trưởng Nguyễn Kháng. Ba cái hầm này làm thành kiềng tam giác vây chung quanh hầm máy.
Một chiều, máy bay đánh vào suối cây Đại học. Bốn chiếc F105 quăng đủ 16 quả bom phá xuống đoạn suối đá này. Chúng tưởng là phá tung đường ống leo lên núi ở đây. Nhưng không, không quân Huê Kỳ nhầm. Đường ống đâu có đi dọc suối. Bom của chúng chỉ làm đá vỡ xô ầm ầm xuống chân núi. Ngớt bom, Nguyễn Kháng dẫn hai chiến sĩ đến kiểm tra đường ống. Trong nhập nhoạng dáng chiều khét lẹt thuốc bom, Kháng thất thần khi nhìn thấy cây Đại học đổ gẫy gập, cành lá tung tóe tan tành. Gốc cây Đại học tước ra từng mảnh. Nguyễn Kháng bới một mảnh thân cây vỡ ra như cái mảnh thuyền đập lúa vẫn đầy những cái tên trường đại học mang về. Anh vác cái mảnh thân cây ấy trong một đêm mùi khói bom và mùi lá rừng ngai ngái ngược dốc lên trạm.
Nguyễn Kháng ngồi trên rễ cây kơ-nia lồi lên mặt đất như một cái ghế dựa, bên cạnh anh là mảnh vỡ thân cây Đại học. Mùi khét thuốc bom không át được mùi thơm nhựa cây toát ra từ mảnh cây kỳ lạ ấy. Bỗng tiếng ve im bặt. Kháng nghe thấy tiếng hát rất nhỏ mà rõ như tiếng cào mảnh vỡ của hai cái bát sứ vào nhau. Chói gắt, chỏi lỏi vào màn đêm. Đó là tiếng hành quân, lộn nhộn, cả tiếng gọi nhau, rồi sau đấy là tiếng trống như trống khai trường… Nguyễn Kháng bỗng hát theo như có người cầm nhịp, bài hát lúc anh lên đường… “Ta vượt trên triền núi cao Trường Sơn đá mòn mà đôi gót không mòn…”
*
Cô gái tên Phượng rất hay tọc mạch hỏi Nguyễn Kháng:
– Anh Kháng ơi! Trường đại học Mỏ là trường gì? Sao đại học lại có mỏ? - Các cô bụm miệng cười.
Kháng cười nhưng tưng tức.
– Anh Kháng ơi, đây lại có cả cái Trường Công nghiệp nhẹ? Vậy là trường này kém Trường Công nghiệp nặng hả anh? Cái công nghiệp của anh Kháng nặng hay nhẹ? - Nói rồi hai cô Phượng và Dịu lại ôm nhau cười.
Mảnh thân cây Đại học đặt dựng đứng như cái bảng đen gần chỗ bàn ăn cơm trên cửa hầm của trạm. Cái trạm “tiếp sức” cho đường ống treo đầy hoa phong lan từ ngày có hai cô gái miền Bắc vào. Quái lạ, có nhiều chùm phong lan đã vài năm không chịu nở hoa rồi bỗng ra hoa kể từ ngày trạm có 2 cô gái. Cô Dịu khoác lên cái mảnh cây vỡ ấy một giò phong lan đuôi chồn. Một hôm cô để ý thấy Nguyễn Kháng ngồi thẫn thờ rất lâu bên mảnh thân cây có những cái tên trường đại học này. Dịu hỏi:
– Trung trưởng ơi. Bao giờ hết oánh nhau, trung trưởng cho em mang cái mảnh cây này ra Bắc nhé. Em sẽ nhớ anh chị em trạm của mình lắm đấy.
Đã từ lâu nay Kháng quen nghe cái tên Trung đội trưởng của mình thành Trung trưởng. Tiếng nói của các cô gái giữa Trường Sơn nghe lạ lắm. Mọi câu nói của con gái ở trên Trường Sơn này như khắc sâu vào cây vào đá vào hang sâu vào suối thẳm tới muôn đời sau. Họ bảo nơi thâm sơn cùng cốc mà có tiếng con gái thì sẽ lưu lại đến vài trăm năm. Tiếng những cô gái trinh nguyên thấm vào cây cỏ và hoa rừng. Con suối nào các cô gái từng tắm gội đời sau họ bảo đó là suối tiên. Những tảng đá nơi các cô thay áo quần là những tảng đá mềm về đêm và lại là đá cứng vào lúc ban ngày khi mặt trời lên. Mỗi khi nghe tiếng cười của họ, Kháng thấy mình hết mệt. Tiếng cười của họ làm cho mưa cũng chóng tan, ve kêu cũng chóng lặng, đói khát cũng bị quên đi.
Dừng lại hồi lâu Dịu nói tiếp.
– Trung trưởng khắc tiếp tên trạm mình vào mảnh thân cây này đi. Mình không đại học rồi cũng cố mà học trung trưởng nhể. Em sẽ lại treo hoa phong lan vào mảnh cây này cho nó bám rễ lên những cái tên kia. Bám lên tên mình anh nhé.
Dịu cười bẽn lẽn. Rồi tiếp:
– Em mà có con em sẽ cho con em học lên đại học dù ăn đói, ăn rau khoai nước, đánh dậm mò cua em cũng sẽ cố cho con em đi học đại học như các anh…
Lần đầu từ hôm cây Đại học gẫy nát vì bom Mỹ, Nguyễn Kháng rơm rớm nước mắt vì tâm sự của một đồng đội gái của trạm mình.
Kháng nói:
– Ừ, rồi chúng mình sẽ trở về và các em sẽ vào đại học sẽ nhớ mãi ước mơ đại học từ đỉnh Trường Sơn.
Nguyễn Kháng mở lớp học cho trạm. Hai cô gái chăm học hơn mấy chàng đàn ông, cô nào cũng lấm lét nhìn Trung đội trưởng. Nguyễn Kháng dạy cả văn cả toán. Gì chứ chương trình toán lớp 10 thi vào đại học với chàng kỹ sư Đại học Quân sự thật nhẹ nhàng. Kháng bảo mọi người, sau chiến tranh, nếu giời để cho mà về thì ai cũng phải sống bằng thực lực trình độ của mình, đừng hy vọng vào sự ưu tiên đâu các cô các cậu nhé. Ngồi dựa gốc cây cổ thụ nhiều lúc các trò phải cố dỏng tai vì tiếng ve kêu rối ren như tơ vò trên cao. Những con ve kêu. Trang giấy có những giọt nước li ti. Một buổi trưa đang chụm đầu vào nghe thày Nguyễn Kháng giảng bài thì máy bay ò è bay qua. Cũng như mọi lần nó bay chán rồi cút. Nhưng hôm nay nó quay vòng lai hai lần. Kháng hô to chạy vào hầm đi. Bom nổ, đất đá cành cây văng tối tăm mù mịt. Chỉ một loạt bom rồi thôi. Cả trạm chui ra rũ rượi. Cái Dịu kêu lên, ối quần áo chúng em bay hết lên cây rồi trung trưởng ơi. Các cô bần thần nhìn nhau.
Có những con suối Trường Sơn cheo leo ngay lưng chùng núi đá cũng có những con suối chảy vòng vèo chân núi rồi đổ vào một cái hang đá rồi mất hút. Rồi bất chợt ló ra ở một vách núi nào đó mà không ai biết, rồi tìm đến với ánh sáng và hoa lá véo von chim muông. Hoa ở rừng Trường sơn cũng vậy. Bao nhiêu kỳ thú ở Trường Sơn là ở loài hoa. Có những bất chợt người lính thấy hoa ở vách đá, ở hốc cây, ở ngọn cây cao vút trên ngọn cổ thụ. Ở những chỗ hố bom đào vào vách núi cũng vô số những loài hoa mà không biết tên là gì. Cũng có lúc, những đóa hoa đá nằm đáy suối long lanh đùa rỡn với những con cá bé ti ti đủ màu sắc. Vào mùa mưa có trăm nghìn con suối nhỏ trên đỉnh núi tưới nước trắng xóa xuống chân núi. Lúc ấy cả ngọn núi reo ầm ào tiếng nước va vào đá tiếng những đàn vượn, đàn khỉ và chim muông ra kiếm ăn sau cơn mưa vừa tạnh.
Một buổi trưa Nguyễn Kháng đi kiểm tra đường ống về gần trạm. Sau mấy trận mưa hôm trước cái vách đá cạn sau trạm thành cái thác nước nho nhỏ trắng ngần. Anh dừng lại nghe tiếng vượn tí hủn tí hủn. Quái sao hôm nay đàn vượn đến gần trạm thế. Kháng nâng súng lên định bắn. Giống vượn tinh lắm. Nó ngửi thấy mùi súng mùi người liền tru lên. Kéc ke ke rồi nhảy rào rào. Có tiếng người rú lên. Kháng chạy nhào xuống suối. Trung đội trưởng Kháng đứng sững như trời trồng. Phượng khỏa thân ôm ngực ngồi dưới nước mặt tái mét. Kháng quay lên nép sau bụi chuối rừng đợi Phượng mặc áo quần. Phượng luống cuống mãi mới lên được chỗ Kháng:
– Anh ơi em tắm mà mấy con vượn nó ngồi trên cây nó nhìn em - Phượng khóc nức nở - Nó nhìn thấy em…
Đêm ấy Nguyễn Kháng ghi vào nhật ký.
… “Mình phải cương quyết. Hãy giữ cho trái tim chúng ta thật khỏe để truyền xăng dầu đên tận mặt trận đánh quân thù… ”.
Khuya rồi Phượng và Dịu ra ngồi cùng Kháng ở khúc rễ cây kơ nia lồi lên như cái ghế tựa bên cạnh là mảnh cây Đại học. Phượng nói:
– Đêm nào em cũng thấy tiếng cười, tiếng thầy giáo giảng bài lại cả tiếng đàn tiếng hát ở mảnh vỡ cái cây Đại học, trung trưởng ạ.
Dịu nói tranh vào:
– Em cố nghe xem có tiếng con gái không mà không thấy. Chỉ thấy họ hát. Họ hát hay lắm, em nghe rõ mà… “Ta vượt trên triền núi cao Trường Sơn, đá mòn mà đôi gót không mòn…”
Những ngôi sao như sà xuống ngay trên đầu họ. Những người lính trên trạm tiếp sức xăng dầu trên đỉnh núi hay bảo với nhau như thế. Rằng họ rất gần với những ngôi sao Trường Sơn.
Mùa khô năm ấy, quân ta chuẩn bị mở màn đánh lớn vào Tây Nguyên. Máy bay quần thảo dọc tuyến xăng dầu dữ dội. Các trạm tiếp sức đều bị bom phá, bom bi, bom cháy. Hôm ấy Nguyễn Kháng không có nhà. Anh đi kiểm tra tuyến ống mình phụ trách. Trạm anh dính bom. Đường ống gẫy gục xuống nhưng chưa vỡ. Phượng và Dịu cùng các chiến sĩ lao vào sửa chữa.
– Phượng ơi, chị vác cho em hòn đá kê ống lên để em khóa cô li ê.
Không thấy Phượng trả lời. Dịu quay lại thấy Phượng ôm mảnh gỗ đại học kích ống lên. Máu dàn dụa trên thân gỗ, Dịu vội ôm Phượng ra giằng tấm gỗ ghé vai kê kích ống dầu. Một nắm tóc của Phượng bám vào mảnh gỗ đầy những máu dứt soàn soạt. Khi Nguyễn Kháng chạy về đến trạm thì Phượng hy sinh. Dịu khóc ngất đi bên mảnh cây đại học đầy máu. Trạm vẫn thông. Xăng, dầu vẫn chảy.
Cho đến ngày Nguyễn Kháng rời đi đơn vị khác khi chiến dịch năm 1975 bắt đầu, anh vẫn cho để tấm gỗ vỡ từ thân cây đại học kê dưới đường ống nơi Phượng nằm xuống. Cả những sợi tóc của Phượng mắc vào vỏ gỗ mọi người trong trạm cũng cứ để nguyên đó. Không ai nỡ dứt những sợi tóc trên cái vỏ cây mốc thếch. Họ bảo đừng làm đau Phượng. Họ bảo Phượng tới lúc hy sinh vẫn mơ một ngày được vào đại học.
Dịu bảo Nguyễn Kháng:
– Anh ơi em mang chùm phong lan này để vào chỗ tóc Phượng được không anh?
Nguyễn Kháng quay mặt đi chỗ khác. Anh khóc./.
Truyện ngắn của Nguyễn Trọng Luân - Minh họa: Đặng Tiến