(HPĐT)- Nếu nói là truyện ngắn thì chưa tới. Coi là mẩu chuyện về cây mai lại hơi dài. Nhưng thông điệp đáng yêu từ truyện ngắn này của Hoàng Khánh Duy có thể khiến người đọc bật cười. Vì người viết đang dùng vai của nhân vật kể để thể hiện cảm xúc của mình. Cảm xúc ấy mộc mạc, giản đơn, cũng giống như cách kết cấu cao trào về sự biến mất của cây mai già giữa sân nhà vậy. Nhưng cũng vừa đủ để người đọc cảm nhận rõ nét về mùa Xuân, Tết, và những tình cảm đong đầy với ý nghĩa sum họp đoàn viên. Đọng lại ở đây là câu chuyện về tình người với người, tình người với cây bởi cây cũng là một sinh thể có tâm hồn cảm xúc.
.jpg)

Những cội mai già ngoài sân bắt đầu khoe sắc. Mấy cây mai đó ông tôi quý lắm. Dạo nọ có người mua mai đi ngang qua xóm, ngắm nghía một hồi phát hiện ra dáng cây mai của ông là dáng rồng lượn nên họ bỏ giá hơn nửa tỷ đồng để tạm mua, nhưng ông tôi nhất quyết không bán. Hàng xóm cười ông tiền tỷ không mê, đi mê cái cây mỗi năm mới rộ bông được một lần, có năm lỡ hẹn còn không trổ. Ông tôi không giải thích, nói đúng hơn là ông không ưa giải thích. Nhưng tôi hiểu ông yêu mấy cây mai, lâu lâu vun phân bón gốc. Chiều nào ông tôi cũng ngồi đó ngắm nghía, tỉa cành này, dưỡng cành kia. Tôi không hỏi ông tôi trồng cây mai này tự bao giờ, nhưng từ lúc tôi mở mắt chào đời đã thấy mai vươn cành đón gió, dáng mảnh khảnh ngoài khoảng sân rộng.
Ông tôi bẻ lá mai từ đầu tháng Chạp, chiều nào ông cũng sai tôi xách thùng nước ra tưới gốc mai cho ướt để trổ bông đúng vào ba ngày Tết. Tôi nghe lời ông chăm bón mấy cội mai. Thành thông lệ rồi, cứ đầu Chạp là tôi với ông bắc ghế đứng lên bẻ lá mai từ trên ngọn cây bẻ xuống. Và lần nào ông tôi cũng dặn tôi bẻ nhẹ tay, đừng tước ẩu, đừng để cuống lá lột mảng vỏ cành mai. “Nó tức, nó không trổ bông!”, ông dặn dò.
Ngoài sân nhà có đủ loài mai, tôi đếm sơ cũng tầm ba loại: mai trắng, mai vàng, mai tứ quý. Năm ngoái có cây mai lần đầu trổ bông, mà kỳ lạ trổ bông màu trắng chứ không phải bông vàng như những cây mai khác. Bác tôi từ trên thành phố về quê chơi thấy thích, bác nằng nặc đòi bứng cây mai về thành phố trồng vô trong chậu bổ sung thêm trong vườn kiểng nhà bác. Ông tôi tiếc lắm nhưng vì quý bác nên ông cũng ngậm ngùi ra sau nhà lấy cây xẻng bứng cây mai bạch, lấy bao nilon gói gốc cẩn thận để bác tôi chở về thành phố.
Trong số những cây mai còn lại ngoài sân vườn, ông tôi cưng nhất là cây mai vàng, ông gọi là “cụ mai”. Gọi như vậy cũng có cái lý của ông. Cây mai này sống lâu, thân cao to, cành vươn dài chỉ xem xém cây vú sữa bên hè, rễ vằn lên mặt đất thành những hình thù rồng rắn khác nhau. Đặc biệt là luôn trổ bông đúng vào sáng ba mươi Tết.
- Mấy chục năm rồi, đời mai dài bằng đời ông. Chưa bao giờ ông thấy mai trổ bông sai hẹn.
Cụ mai nằm ở vị trí đắc địa nhất: giữa sân vườn. Ông tôi lấy cỏ khô đắp lên gốc cây để bọn trẻ không tinh nghịch giẫm lên mà xước rễ. Bông cụ mai có mười hai cánh, bông nào cũng to, nhiều bông chi chít thành chùm nhìn thôi đã thấy sung túc. Tôi cũng mê ngắm cụ mai mỗi khi trổ bông, nhìn chẳng khác gì một mâm vàng bạc, óng ánh cả sân nhà. Ai đi ngang qua cũng để ý cụ mai, nhìn ngắm, chỉ trỏ, bàn tán, bảo ông Sáu Khảnh có “báu vật” trong vườn. Ông tôi cười vang. Đúng, với ông tôi cụ mai chính là “báu vật” mà ông yêu, ông quý, ông chăm sóc kỹ từng chiếc lá cành cây. Thấy người ta bàn tán, khen ngợi, bà tôi đâm lo, bà bảo:
- Ông coi mà giữ cụ mai cho thiệt kỹ, tôi thấy người ta để ý rồi đó, bị chôm như chơi đó.
Ông tôi xùy một cái, nói suôn:
- Bà lo xa, cụ mai bén rễ sâu xuống đất, lại to vậy thì trộm thế nào được.
Bà tôi nói trổng:
- Thì để coi.
Ông tôi bỏ ra võng mắc ở hai cây cau cũng mọc trong vườn ngủ một giấc tới xế chiều.
Nỗi âu lo của bà tôi cuối cùng cũng thành sự thật. Sáng ba mươi Tết, con bé Tiên đang chơi ở ngoài vườn hớt hơ hớt hải chạy vô, mếu máo:
- Ông ơi, bà ơi, cả nhà ơi, cụ mai… cụ mai…
Nó thở dốc. Tôi hỏi, giọng trêu:
- Cụ mai làm sao? Con bé này, làm gì mặt cắt không còn hột máu vậy?
Nó nói tiếp trong sự chờ đợi của mọi người:
- Cụ mai mất tiêu rồi!
Ông tôi hốt hoảng chạy ra ngoài sân. Tôi chạy theo ông, sau cùng là bà tôi với bé Tiên. Cụ mai mất thiệt. Chỗ gốc cây đất bị đào lên hổn hển, một chiếc rễ đứt lại bám vào đất, chỗ đứt nhú lên ứa nhựa đỏ tươi. Ông tôi cúi xuống nhặt một chiếc rễ bị đứt nằm chênh hênh, bực tức:
- Quân nào bứng cụ mai đi? Quân nào?
Bà tôi nửa tiếc, nửa nói thách với ông:
- Đó, tôi nói có sai đâu! Còn bò không lo làm chuồng, giờ… mất bò rồi đó.
Ông tôi giận. Cả ngày hôm đó ông không ăn cơm. Tôi lấy cây xẻng lấp đầy đất vào trong chỗ cây mai bị bứng đi. Còn ông ngồi bên hiên nhà nhìn ra chỗ cây mai cũ miết. Tôi biết ông xót xa lắm. Sao lại không xót xa khi cây mai đó có tuổi đời song song với ông, cùng ông trải qua bao thăng trầm, buồn vui trong cuộc sống. Lúc ông xa cây mai lâu nhất có lẽ là khi ông đi chiến đấu. Tôi cũng chỉ nghe bà tôi kể lại thế. Khi vừa trở về ông đã ra thăm cây mai, khen nó mau lớn, lấy nước tưới cho nó. Kể từ đó cây mai với ông tôi gắn bó cùng nhau. Chưa bao giờ ông tôi xa cây mai với mảnh vườn nhỏ quá năm ngày. Hôm bác tôi rước ông bà lên thành phố chơi, kế hoạch là đi một tháng, sẵn tiện bác đưa ông bà đi Đà Lạt một chuyến nghỉ mát. Nhưng mới năm ngày ông đã đòi về, bà cười: “Chắc ổng nhớ cụ mai”. Bà nói không sai, ông sợ ở nhà quên tưới cụ mai, sợ vườn mai của ông xuống sắc, héo úa. Bà đùa: “Ông bây cưng vườn mai, cụ mai còn hơn cưng bây nữa đó”.
Ngày tháng trôi qua, chuyện cụ mai bị mất cắp cũng bay xa. Ở xóm tôi không còn nhắc chuyện “ông Sáu Khảnh có cây mai đẹp hết biết, phải bán đi là có cả tỷ rồi, tiếc làm gì để mất cả chì lẫn chài”. Nhưng nỗi buồn còn vươn trên đôi mắt kèm nhèm của ông. Vài buổi chiều ông quên cây mai bị mất, cứ thản nhiên xách nước ra tưới nước cho cụ mai sau khi đã tưới xong cho hàng mai trắng và mai tứ quý. Nhận ra cụ mai không còn, ông tôi buồn thiu.
Hồi đầu năm ông tôi bệnh, là bệnh của người già, nhức đầu, chóng mặt, đau lưng… Nói là bệnh của người già thì ai già cũng bệnh chứ khó chịu lắm. Tôi còn trẻ khỏe mà nhức lưng hai hôm đã thấy rã rời huống chi là ông. Chú bác tôi trên thành phố về thăm ông, mua cho ông nào sâm, nào nấm linh chi… để ông tôi tẩm bổ. Ông tôi có vẻ ngại ngần, một lúc ông nói:
- Mình già rồi, biết đâu mình cũng sẽ biến mất trong một đêm như cụ mai?!
Tôi nhìn ra sân vườn, gió rung rinh hàng mai trắng, mai tứ quý và mấy cây mai vàng nhỏ đan xen. Cớ sao tôi vẫn thấy trống vắng, giá có cụ mai lấp vào cái khoảng trống trước mắt, đúng hơn là cái khoảng trống trong lòng ông tôi...
Sức khỏe ông tôi cứ rề rề như thế! Già mà! Biết đâu đến chừng tôi già nua thì tôi cũng như ông tôi vậy! Bà tôi buồn bã.
Tết sắp đến, gió bắt đầu lay trên ngọn cây thổi vào trong nhà mang theo hơi lạnh se se, nhưng thoảng trong gió hương thơm của Tết, vị nồng nàn của cỏ hoa. Sân vườn như tươi mới hơn, bắt đầu mùa sinh sôi nảy lộc. Ông vẫn không quên nhắc tôi xách nước tưới mấy cây mai còn lại trong vườn, nhưng ông cũng không buồn rào lại nữa.
Đêm ba mươi, ông tôi bước ra vái trời đất, vái bàn thờ gia tiên. Mâm ngũ quả tươi rói, bó hoa thơm, dĩa bánh tét má tôi cắt khoanh để trên bàn sẵn cúng tổ tiên - những người đã khuất. Ông nói:
- Tết vui quá, nhưng hình như thiếu thiếu chút gì?!
Bà tôi cười:
- Thiếu cụ mai!
Ông ậm ừ:
- Thiếu cụ mai, Tết cũng mất vui!
Rồi ông bỏ vào trong ngả lưng. Bà tôi dọn dẹp bàn thờ, cất mấy cây chổi vào trong kẹt tủ. Bà tôi vẫn giữ quan niệm của người xưa: Tết nhứt thì không được quét nhà, quét nhà thì quét vô trong để giữ lộc. Nhưng phong tục ấy cũng hay. Tôi nghĩ vậy!
Sáng mồng một Tết, con đường xóm nhỏ xe cộ chạy ra chạy vào không ngớt. Trẻ con xúng xính áo quần đi chơi Tết, mấy cô cậu hò hẹn nhau đèo nhau lên tỉnh coi chợ hoa, chợ dưa hấu. Tôi ngồi ngoài hiên nhà hóng gió xuân, chợt reo lên sau khi nhìn ra sân vườn:
- Trời ơi, ông ơi, ra coi nè ông! Cụ mai…
Ông tôi nói, giọng bình thản:
- Cụ mai gì nữa! Mất từ năm ngoái rồi!
Tôi gạt ngang:
- Cụ mai trở về rồi!
Ông tôi bán tin bán nghi, nhưng ông vẫn đi ra, bước chân ông nhanh hơn mọi khi. Và ông dừng lại bên hiên khi thấy cụ mai đứng sững ở chỗ cũ, cái lỏm đất lâu nay vẫn còn húng xuống vì không có đất nào lấp đầy được. Ông tôi mừng rỡ:
- Cụ mai! Bà ơi! Cụ mai về thiệt rồi!
Ông tôi ra sân vườn sờ vào nhánh nhót của cụ mai, mắt ông rưng rưng. Người già thường ít khóc nhưng ông tôi đã khóc vì một cây mai, có lẽ vì ông quá yêu cây mai của mình. Bà tôi cũng mừng rỡ, còn tôi nhảy lên như một đứa trẻ. Niềm vui ngập tràn từ trong nhà ra ngoài vườn, lan ra xóm nhỏ. Người ta biết chuyện cụ mai trở lại chạy sang chúc mừng ông tôi tìm được “báu vật” mất cách đây hơn năm trời. Tự dưng tôi thấy ông khỏe hẳn ra.
- Nhưng sao cụ mai trở lại được? - Ông tôi hỏi. Câu hỏi của ông khiến tôi sững lại. Bà cũng ngớ người.
- Cụ mai không cánh mà bay về! - Ai đó nói.
- Chắc vậy đó!
Không ai biết sao cụ mai trở lại được. Đó là một bí mật. Một bí mật mà không ai biết được dù có tò mò đến đâu, duy chỉ có bác tôi là biết. Sau đó, bác nói cho tôi nghe, dặn tôi giữ bí mật. Chuyện là mồng một Tết năm đó, tôi gặp lại bác. Bác véo vào vai tôi một cái rõ đau, tôi nhìn bác cười mỉm. Tôi định nói với ông để ông biết được bác tôi là người đưa cây mai về từ chỗ một tay buôn mai khét tiếng trên tỉnh. Bác nói thầm vào tai tôi:
- Bí mật! Cứ để ông nghĩ mai tự bay về.
- Vì sao ạ? - Tôi hỏi.
- Vì cây mai nào cũng có hồn riêng của nó.
Tôi cười.
Tết năm ấy thật trọn vẹn.
*
Thật ra bác tôi đã mua lại cây mai từ tay buôn mai trên tỉnh. Người buôn mai kể: Một buổi sáng có lão nọ chở cây mai bằng xe tải đến chỗ ông ấy, lúc đó cây mai được ràng buộc kỹ lưỡng, che chắn đủ bề cốt để người ta không nhận ra đó là cây mai. Rễ mai còn tươi, cả những rễ nhỏ nhất. Thấy cây mai đẹp, dáng mảnh khảnh nên ông mua lại với mức giá vừa phải. Bác tôi mua lại từ tay buôn mai sau vụ đổi chác những cây quý của bác trong vườn nhỏ trên thành phố cùng một món tiền.
Thế là cây mai trở lại! ./.
Truyện ngắn của Hoàng Khánh Duy - Minh họa: Đặng Tiến