Sử dụng tiền tệ làm vũ khí
Chứng khoán thế giới lao dốc do căng thăng thương mại Mỹ - Trung, sắc đỏ bao trùm tại Sàn giao dịch chứng khoán Niu Y-oóc Mỹ, ngày 5-8-2019. Ảnh: THX/ TTXVN
Ngày 5-8, lần đầu kể từ năm 2008 đến nay, giá nhân dân tệ (NDT) phá mốc 7 NDT đổi 1 USD, sau khi Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) hạ giá nội tệ xuống thấp nhất kể từ cuối năm ngoái. PBOC giải thích động thái này chủ yếu để thể hiện sự lo ngại của thị trường về “các biện pháp bảo hộ và thuế nhập khẩu mới nhằm vào Trung Quốc”.
Đây không phải lần đầu PBOC làm dấy lên mối lo chiến tranh tiền tệ kể từ khi chiến tranh thương mại Trung-Mỹ bùng phát cách đây hơn một năm. Tuy nhiên, với các diễn biến leo thang gần đây, và việc để đồng nội tệ xuống thấp kỷ lục, giới phân tích cho rằng Bắc Kinh đang gửi đi thông điệp: Họ sẵn sàng sử dụng tiền tệ làm vũ khí trong cuộc chiến thương mại với Oa-sinh-tơn.
Tuần trước, Tổng thống Mỹ Đô-nan Trăm khiến căng thẳng thương mại leo thang khi tuyên bố sẽ áp thuế 10% với khoảng 300 tỷ USD hàng hoá Trung Quốc nhập khẩu còn lại từ ngày 1-9 tới.
Tối 5-8, Tổng thống Trăm lên Twitter chỉ trích Trung Quốc cố tình kiềm giá đồng nhân dân tệ và gọi hành động hạ giá nội tệ là “sự vi phạm nghiêm trọng”.
Cùng ngày, Bộ Tài chính Mỹ cũng chính thức đưa ra cáo buộc tương tự nhằm vào Trung Quốc, lần đầu kể từ năm 1994. Bộ trưởng Tài chính Mỹ Sti-vân Mnu-chin cho biết sẽ cùng Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của Bắc Kinh từ việc hạ giá đồng nội tệ.
Mối lo ngại ngày càng rõ ràng hơn trên các thị trường là chính quyền Mỹ có thể can thiệp trực tiếp làm suy yếu đồng USD. Tuy đồng yên, ơ-rô và bảng Anh đều là những mục tiêu tiềm năng, nhưng phạm vi lớn nhất cho sự bất ổn tài chính toàn cầu liên quan đến Mỹ và Trung Quốc.
Rủi ro với cả hai
Tờ New York Times cho rằng những động thái mới nhất có nguy cơ làm xáo trộn trật tự tương đối ổn định, tạo ra hiệu ứng bất ổn không thể đoán trước. Khi tiền tệ dao động mạnh mẽ có thể kéo theo nền kinh tế của một số quốc gia hùng mạnh nhất, bằng cách “nghiền nát” các lĩnh vực kinh tế trở nên mất tính cạnh tranh chỉ vì biến động tỉ giá trên toàn cầu.
Và nó có thể làm suy yếu vai trò trung tâm của Mỹ trong hệ thống tài chính quốc tế, đặc biệt là nếu các cáo buộc hạ giá nội tệ được đưa ra bằng sự trả đũa cụ thể nhằm cố gắng làm giảm giá trị của đồng đôla Mỹ một cách giả tạo.
A-đam Pô-dơn, Chủ tịch Viện Peterson (Mỹ), cho biết đồng đôla Mỹ là loại tiền tệ toàn cầu chính mang lại lợi ích to lớn cho Mỹ, nhưng luôn có tác dụng phụ là khi Mỹ cố gắng giảm giá, thì lại có những giới hạn về mức độ họ có thể làm điều đó. Nếu Mỹ lạm dụng đặc quyền của mình quá nhiều bằng cách “bắt nạt”, cuối cùng sẽ có sự chuyển đổi.
Về phía Trung Quốc, Bắc Kinh có động cơ để ngăn chặn bất kỳ sự mất giá nào nhằm chặn đứng tình trạng tháo vốn. Nạn tháo chạy vốn vào năm 2015-2016 từng khiến Bắc Kinh phải chi khoảng 1.000 tỷ USD trong kho dự trữ ngoại hối trị giá 4.000 tỷ USD để bảo vệ đồng nhân dân tệ.
Theo Viện Tài chính Quốc tế, các công ty phi tài chính Trung Quốc hiện nợ 800 tỷ USD, tương đương 6% GDP, trong khi các ngân hàng Trung Quốc nợ lên tới 670 tỷ USD, tương đương 5% GDP. Một làn sóng vỡ nợ đột ngột của đồng USD và các loại tiền tệ khác, do căng thẳng tỷ giá, sẽ đẩy nền kinh tế Trung Quốc vào cuộc suy thoái đầu tiên trong thời kỳ cải cách.
Các nền kinh tế châu Á khác cũng đang đối mặt với những rủi ro của chiến tranh tiền tệ. Hôm 5-8, đồng won Hàn Quốc giảm 1,4% so với đôla Mỹ. Hàn Quốc là một phần của “liên minh nhân dân tệ” mới nổi – gồm các quốc gia có giao dịch rộng rãi với Trung Quốc - và kết quả là đồng tiền của họ chịu ảnh hưởng mạnh bởi giá trị của đồng nhân dân tệ. Trong khi đó, Nhật Bản là chủ nợ lớn nhất thế giới, nắm giữ tài sản nước ngoài ròng 3.200 tỷ USD vào năm ngoái. Đồng yên mạnh hơn sẽ làm giảm lợi nhuận từ các khoản đầu tư đó, làm giảm thu nhập của công ty và hộ gia đình, và gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Nhật Bản.
Tổng thống Trăm đang trừng phạt Trung Quốc, nhưng ông cũng đặt tăng trưởng của Mỹ vào tình trạng nguy hiểm bằng cách giải phóng các rủi ro thương mại và tiền tệ, vốn làm suy yếu những lợi ích của cải cách thuế mà ông đặt ra.
Thu Hằng