Chống thất thoát nguồn thu từ khai thác khoáng sản

22/03/2017 10:22

Năm 2016, toàn thành phố chỉ thu được 12,2 tỷ đồng thuế tài nguyên và 26 tỷ đồng phí bảo vệ môi trường. So sánh số thu thuế này với lượng vật liệu san lấp mà DN khai thác khoáng sản cung cấp cho một số công trình trọng điểm của thành phố, dễ thấy nguồn thu bị thất thoát nhiều.

Dự án khai thác cát làm vật liệu san lấp do HTX Thương binh đoàn 2180 làm chủ đầu tư tại mỏ cát Soi Mờ (xã Bát Trang, huyện An Lão) được cấp giấy phép khai thác khoáng sản ngày 25-4-2011. Ngày 12-12-2013, thành phố bàn giao đất ngoài thực địa cho đơn vị thực hiện dự án. Mỏ cát Soi Mờ được đơn vị này khai thác hầu hết diện tích, nhưng mới nộp hơn 708 triệu đồng tiền thuế tài nguyên, 681 triệu đồng phí môi trường. Điều đáng nói, các ngành chức năng chưa nắm rõ khối lượng khai thác thực tế của đơn vị này, không biết bao nhiêu khối cát đã được các tổ chức, cá nhân khai thác hằng ngày. Trên địa bàn huyện An Lão hiện có 4 tổ chức hoạt động khai thác khoáng sản, nhưng thời gian qua, việc thu thuế tài nguyên của các tổ chức được cấp phép khai thác khoáng sản vẫn theo cách DN tự kê khai sản lượng khai thác khoáng thực tế. Từ đó, cơ quan chức năng làm cơ sở để tính thuế. Do đó, có tình trạng đơn vị khai thác khoáng sản không trung thực trong việc báo cáo sản lượng khai thác.

Theo Luật Thuế tài nguyên, các tổ chức, cá nhân SXKD có nghĩa vụ tự tính, tự khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm tính chính xác về số liệu do đơn vị lập và báo cáo. Lợi dụng quy định này, để giảm bớt khối lượng thực tế khai thác, nhiều chủ mỏ không thực hiện mở sổ sách kế toán theo quy định; không có kế toán trực tiếp xuất hóa đơn mua, bán tại mỏ hoặc nhập kho. Không ít DN chưa tuân thủ việc lập báo cáo hoạt động khai thác định kỳ, không cung cấp thông tin về khối lượng khai thác, trữ lượng còn lại,... Vì thế thất thoát nguồn thu ngân sách dễ xảy ra, nguồn thu từ hoạt động khai thác khoáng sản hạn chế.

Những hạn chế này hy vọng được khắc phục khi thực hiện quy định mới về khai thác khoáng sản. Theo Điều 41, 42 Nghị định 158, DN phải có biên bản nghiệm thu khối lượng từng khâu công nghệ khai thác gồm chuẩn bị đất đá, xúc bốc, vận tải, theo dõi thống kê khối lượng khoáng sản nguyên khai, phiếu xuất kho vật liệu nổ công nghiệp. DN phải lập sổ sách, chứng từ tài liệu về tài chính làm căn cứ xác định sản lượng khoáng sản khai thác thực tế gồm: hoá đơn mua vào, phiếu xuất kho nguyên, nhiên liệu cung cấp cho các khâu công nghệ khai thác; hoá đơn bán hàng, phiếu xuất khoáng sản nguyên khai vận chuyển ra ngoài khu vực khai thác; hợp đồng mua bán khoáng sản nguyên khai hoặc khoáng sản đã qua đập, nghiền, sàng, tuyền rửa, biên bản nghiêm thu khối lượng, bản thanh lý hợp đồng mua bán khoáng sản.

Đặc biệt, DN phải có trách nhiệm đo đạc phần thể tích khoáng sản đã khai thác để đối chiếu việc kê khai sản lượng khoáng sản đã khai thác, đây là giải pháp quan trọng ngăn chặn tình trạng khai sai sản lượng thực tế. Việc thực hiện nghiêm các quy định cùng với sự giám sát chặt chẽ từ các cơ quan chức năng hy vọng khắc phục tình trạng thất thoát nguồn thu từ khai thác khoáng sản như thời gian qua.

Bảo Châu

(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Chống thất thoát nguồn thu từ khai thác khoáng sản