Đa dạng nguồn lực bảo tồn đa dạng sinh học tại quần đảo Cát Bà
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Mất mát đa dạng sinh học cũng là nguy cơ hiện hữu và ngày càng nghiêm trọng đối với nhiều khu vực. Trong đó, quần đảo Cát Bà có diện tích 153 km², là đảo lớn thứ 3 ở Việt Nam sau 2 đảo: Phú Quốc, Cái Bầu cũng đang đứng thách lớn rất lớn trong viêc bảo vệ đa dạng sinh học.
Quần đảo Cát Bà có vị thế quan trọng trên bản đồ bảo tồn thiên nhiên và phát triển bền vững của thế giới – nơi ghi nhận nhiều giá trị và danh hiệu quốc gia và quốc tế. Về đa dạng sinh học, Cát Bà phong phú các loài động thực vật từ trên cạn tới dưới biển. Riêng trên cạn theo thống kê có tới hơn 2,4 nghìn loài động vật và hơn 1,6 nghìn loài thực vật cùng với hàng trăm loài côn trùng khác nhau. Đối với hệ sinh cảnh dưới nước, tại đây có nhiều loài cua, cá nước ngọt. Dưới biển, Cát Bà ghi nhận khoảng 2.137 loài như rong rêu, động thực vật phù du; khoảng 247 loài san hô khác nhau, 361 loài cá biển, rùa biển, cá heo, rắn biển.
Hơn 30 năm qua, Vườn quốc gia Cát Bà với vai trò là một trong những khu dự trữ sinh quyển của thế giới và là khu rừng đặc dụng có đa dạng sinh học phong phú bậc nhất Việt Nam thực hiện thành công 15 đề tài, dự án cấp bộ, thành phố và cơ sở nhằm bảo tồn và phát triển nguồn gien động, thực vật. Đặc biệt, có 14 dự án của các tổ chức phi chính phủ phối hợp đầu tư, nâng cao năng lực quản lý, lãnh đạo nhằm phát triển bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trong đó, đáng chú ý là các dự án: Bảo tồn Voọc Cát Bà của Hội động vật về bảo tồn loài và quần thể và Vườn thú Muenster (Đức); Bảo tồn và phát triển Cát Bà của tổ chức Bảo tồn động thực vật quốc tế FFI…
Việc bảo vệ đa dạng sinh học, nhất là đối với khu vực rộng lớn như quần đảo Cát Bà đòi hỏi rất nhiều nguồn lực khác nhau bên cạnh nguồn ngân sách Nhà nước. Thực tế, đầu tư cho bảo tồn đa dạng sinh học và nhất là phục hồi các hệ sinh thái, phục hồi các loài nguy cấp cần nguồn lực lớn và thời gian. Mặc dù vậy, các kết quả thường khó đo tính cụ thể, rõ ràng trong ngắn hạn. Do đó, đối với các quốc gia đang phát triển, các chi phí cho bảo tồn đa dạng sinh học khó có thể được ưu tiên do nguồn lực đang được dành cho các hoạt động khác như đầu tư hạ tầng, y tế, giáo dục, phát triển nông thôn... Trong bối cảnh đó, chủ trương xã hội hóa được thể hiện trong nhiều chủ trương, chính sách về bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên của Đảng và Nhà nước.
Trước mắt, để giải quyết các thách thức về nguồn lực trong công tác bảo vệ đa dạng sinh học tại quần đảo Cát Bà, thành phố và Vườn quốc gia Cát Bà cần tiếp tục vận động, tận dụng tối đa các nguồn tài trợ, hỗ trợ quốc tế. Đồng thời, thành phố cần tạo cơ chế khuyến khích, huy động sự tham gia của người dân và khối doanh nghiệp đầu tư tài chính cho bảo tồn đa dạng sinh học thông qua các mô hình hợp tác công-tư trong quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học.
Tâm Anh
Nguyễn Cường