Chuyển trọng tâm từ kế hoạch hóa gia đình sang phục vụ phát triển

11/10/2017 09:48

Tiến bộ rõ rệt về phát triển con người

Ngay từ đầu những năm 60 của thế kỷ trước, Đảng và Nhà nước ban hành chính sách dân số với mục tiêu giảm mức sinh. Đầu năm 1993, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa 7) ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, đặt trọng tâm vào thực hiện kế hoạch hóa gia đình, mục tiêu giảm nhanh tốc độ tăng quy mô dân số. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, sự kiên trì và đẩy mạnh kế hoạch hóa gia đình, mức sinh của nước ta giảm nhanh, hiện đạt mức thấp. Tốc độ tăng dân số cả nước giảm từ hơn 2% năm 1993 xuống còn 1,08% hiện nay. Số dân tăng thêm bình quân mỗi năm từ 1,2 triệu người xuống 950.000 người. Quy mô dân số năm 2016 gần 93 triệu người. Số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm mạnh từ 3,7 năm 1992 xuống 2,1 năm 2006 - đạt mức sinh thay thế sớm 10 năm so với mục tiêu đề ra và duy trì cho đến nay. Kết quả này giúp tránh tăng dân số khoảng 20 triệu người nếu không thực hiện kế hoạch hóa gia đình…

Ngày 4-1-2016, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa 11) ban hành Kết luận số 119-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa 9) về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình, nêu rõ sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 47, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình đạt được kết quả quan trọng, cơ bản đạt được các mục tiêu đề ra. Chỉ sau gần hai năm thực hiện, mức sinh đã giảm nhanh và đạt mức thay thế. Từ năm 2006 đến nay, duy trì tổng tỷ suất sinh ổn định trong khoảng 2-2,1 con; đạt được mục tiêu dân số không quá 93 triệu người vào năm 2015. Chất lượng dân số từng bước được nâng lên; chỉ số phát triển con người (HDI) tăng từ 0,573 điểm năm 2005 lên 0,638 điểm năm 2013, xếp thứ 121/187 nước. Tuổi thọ của người Việt Nam tăng từ 72 tuổi năm 2005 lên 73,2 tuổi năm 2014 và hiện ở mức cao hơn so với các nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người; các chỉ báo về thể lực, trí lực và tinh thần của con người Việt Nam có tiến bộ rõ rệt.

Giải quyết toàn diện các vấn đề dân số

Tuy nhiên, việc thực hiện Nghị quyết 47 còn một số hạn chế, yếu kém: Chất lượng dân số được nâng lên song chưa vững chắc; chỉ số HDI vẫn ở bậc trung bình. Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đến mức nghiêm trọng. Tuổi thọ bình quân tương đối cao nhưng số năm trung bình sống khỏe mạnh của người Việt Nam là khá thấp. Tỷ lệ dân số bị thiểu năng về thể lực và trí tuệ chiếm tới 1,5% dân số và hằng năm tiếp tục tăng thêm, ảnh hưởng đến chất lượng dân số. Có sự khác biệt lớn về mức sinh giữa các tỉnh và các vùng, miền trong cả nước. Kiến thức và kỹ năng sống của thanh niên, vị thành niên về chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục, hôn nhân và gia đình còn nhiều hạn chế.

Qua 10 năm thực hiện Nghị quyết 47, Việt Nam đã sớm đạt được và duy trì vững chắc mức sinh thay thế. Bởi vậy, việc chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển để giải quyết toàn diện các vấn đề dân số cả về quy mô, cơ cấu, phân bổ và nâng cao chất lượng dân số (duy trì mức sinh thay thế, giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh, tận dụng cơ cấu dân số vàng, thích ứng với quá trình già hóa dân số, điều chỉnh phân bổ dân số hợp lý và nâng cao chất lượng dân số) đảm bảo cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Đề xuất 3 phương án điều chỉnh mức sinh

Thực hiện Chương trình làm việc của Hội nghị Trung ương 6 (khóa 12) và chỉ đạo của Bộ Chính trị, sự phân công của Ban Cán sự đảng Chính phủ, Ban cán sự Đảng Bộ Y tế tiến hành xây dựng “Đề án về công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân và dân số trong tình hình mới”.

Về nội dung công tác dân số, Phó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế) Nguyễn Văn Tân cho biết, Bộ đề xuất 3 phương án điều chỉnh mức sinh.

Theo đó, phương án 1: Duy trì mức sinh như hiện nay càng lâu càng tốt. Theo đó sẽ vận động mỗi cặp vợ chồng sinh 2 con mà không quy định thành luật với chính sách linh hoạt. Những địa phương đang sinh nhiều con (hơn 3 con) thì vận động sinh ít đi để có điều kiện nuôi dạy tốt hơn. Ngược lại những nơi tỷ lệ sinh thấp, phải vận động nâng mức sinh lên như khu vực Đông Nam Bộ - tổng tỷ suất sinh chỉ đạt 1,7 con - đây là số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.

Phương án 2: Tiếp tục chính sách sinh ít hơn 2 con, khẩu hiệu mỗi cặp vợ chồng sinh 1-2 con, nhằm tiếp tục giảm mức sinh, giảm tốc độ gia tăng dân số.

Phương án 3: Sinh đẻ thoải mái, không vận động, không cấp phương tiện tránh thai miễn phí (hiện một nửa cấp miễn phí).

Theo ông Tân, trong bối cảnh nước ta là nước đông dân, mật độ dân số rất cao, đất đai ít, với phương án 2, sinh ít con hơn, các gia đình có điều kiện nuôi dạy trẻ tốt hơn, giảm bớt chi an sinh xã hội cho trẻ sinh ra, mật độ dân số tăng chậm hơn. Tuy nhiên, theo ông Tân, nếu tiếp tục như vậy, cộng thêm sự phát triển kinh tế- xã hội của những năm tiếp theo, sẽ tiếp tục đưa mức sinh giảm xuống. Kinh nghiệm cho thấy khi mức sinh giảm xuống đến ngưỡng nào đó, đưa tăng trở lại là rất khó khăn, giống như nhiều nước đang phải đối mặt hiện nay.

Với phương án 3, nhiều chuyên gia lo ngại dân số tăng trở lại. Vì thế, Bộ Y tế mong muốn thực hiện phương án 1.

Nguyễn Bích Thủy

(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Chuyển trọng tâm từ kế hoạch hóa gia đình sang phục vụ phát triển