1. Hỗ trợ giống cây trồng, con vật nuôi phục vụ sản xuất nông nghiệp, thủy sản
![]() |
Ảnh: Minh Trí |
Nông nghiệp, nông dân và nông thôn là vấn đề lớn; Đảng, Nhà nước, Chính phủ có nhiều chủ trương, chính sách đầu tư, hỗ trợ phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn và quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn. Thành ủy, HĐND, UBND thành phố đã ban hành các nghị quyết chuyên đề chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện, cụ thể:
Giai đoạn 2011-2015, thành phố ban hành 5 nghị quyết về phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy sản và hỗ trợ 725 tỷ đồng, bình quân mỗi năm 145 tỷ đồng để: mở rộng vùng sản xuất hàng hóa tập trung; đẩy mạnh áp dụng tiến bộ kỹ thuật; tăng cường quản lý nhà nước; hạn chế ô nhiễm môi trường…
Việc thực hiện các cơ chế, chính sách đã góp phần quan trọng vào phát triển sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người nông dân: Giá trị sản xuất nông nghiệp, thủy sản tăng thêm trên 600 tỷ đồng/năm (bình quân hàng năm 2,91%) do triển khai cơ chế, chính sách đã tạo đà cho nông nghiệp phát triển; đầu tư mở rộng 130%, thu nhập của nông dân tăng 28%/năm. Tạo động lực thúc đẩy phát triển sản xuất, góp phần tích cực xây dựng nông thôn mới. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn tăng từ 19,2 triệu đồng năm 2011 lên 34,08 triệu đồng năm 2015. Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn giảm từ 5,18% năm 2011 xuống còn 1,58% năm 2015.
Tuy nhiên các cơ chế, chính sách giai đoạn trước mới bảo đảm tốt an sinh, chưa huy động tốt nguồn lực để chuyển đổi nền sản xuất nông nghiệp sang quy mô sản xuất hàng hóa lớn. Chính sách hướng nhiều đến hỗ trợ, nhất là ở khâu sản xuất, chưa chú trọng khuyến khích khâu tiêu thụ, chế biến - đây là mắt xích quan trọng nhất trong sản xuất hàng hóa; thiếu cơ chế đủ mạnh phù hợp để phát huy tốt hơn nguồn lực ngân sách và huy động nguồn lực xã hội. Hỗ trợ dàn trải trên nhiều lĩnh vực, nội dung dẫn đến không bảo đảm nguồn lực thực hiện làm cho chính sách chưa phát huy tác dụng. Chưa có cơ chế, chính sách đủ mạnh để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, như cơ chế, chính sách về đất đai, vốn…
Những vấn đề đặt ra hiện nay cho thành phố, đó là cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, thủy sản, kinh tế nông thôn, đồng bộ từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm để hỗ trợ tạo điều kiện cho người dân nông dân liên kết phát triển sản xuất nông sản, thủy sản hàng hóa tập trung, quy mô lớn; có cơ chế, chính sách đủ mạnh thu hút vốn, huy động nguồn lực từ doanh nghiệp, tạo động lực thúc đẩy phát triển sản xuất; tích tụ ruộng đất hợp lý để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, góp phần thực hiện thành công Chương trình xây dựng nông thôn mới và cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao sức cạnh tranh, giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
Đánh giá, phân tích tình hình triển khai các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, thủy sản của thành phố và Trung ương giai đoạn 2011-2015; trên cơ sở đó đề xuất các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, thủy sản, kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập nông dân thành phố Hải Phòng giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2025.
- Nghiên cứu các căn cứ khoa học, chính trị và pháp lý để xây dựng Đề án;
- Đánh giá, phân tích tình hình triển khai các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, thủy sản của thành phố và Trung ương giai đoạn 2011-2015;
- Đề xuất các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, thủy sản, kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập nông dân thành phố Hải Phòng giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2025.
- Đối tượng nghiên cứu: cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, thủy sản; các đối tượng chịu tác động của cơ chế, chính sách (doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình và cá nhân sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, thủy sản).
- Không gian: nghiên cứu trên địa bàn các quận, huyện thuộc thành phố Hải Phòng có hoạt động sản xuất, dịch vụ nông nghiệp, thủy sản.
- Thời gian: số liệu hiện trạng giai đoạn 2011-2015; định hướng và giải pháp đến năm 2020, định hướng đến năm 2025.
Tổng kinh phí thành phố hỗ trợ giai đoạn 2011-2015 là 65.360,64 triệu đồng, bình quân mỗi năm là 13.072,13 triệu đồng; để hỗ trợ giống cây trồng (lúa, rau), giống vật nuôi (lợn, bò, cá nước ngọt).
1.1. Hỗ trợ giống cây trồng
(1) Hỗ trợ kinh phí mua giống lúa mới phục vụ sản xuất (thực hiện Nghị quyết số 14/2010/NQ-HĐND ngày 9-12-2010):
Thành phố hỗ trợ 27.705,24 triệu đồng (bình quân 1 năm 5.541 triệu đồng) [4] mua 999,96 tấn giống lúa mới, bằng 10,2% nhu cầu (517,82 tấn giống lúa lai, 482,14 tấn giống lúa thuần), gieo cấy trên diện tích 32.316 ha tại các vùng sản xuất tập trung.
Trà Xuân sớm và trà Mùa muộn giảm từ 15% xuống 8%; diện tích lúa lai tăng từ 18,17% năm 2011 lên 22,76% năm 2015; diện tích lúa chất lượng từ 39,08% năm 2011 lên 49,94% năm 2015; giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích tăng từ 2 đến 3%.
(2) Sản xuất giống cây trồng (thực hiện Quyết định số 1274/QĐ-UBND ngày 13-8-2012):
Hỗ trợ 3.506 triệu đồng (bằng 21,94% nhu cầu) thực hiện mô hình trình diễn sản xuất lúa giống mới trên diện tích 164 ha, 5 ha sản xuất dưa hấu giống mới; sản xuất giống cây trồng với diện tích 89,5 ha, bằng 17,15% nhu cầu (duy trì 2,5 ha lúa lai bố mẹ, 64 ha sản xuất giống lúa thuần, 20 ha sản xuất giống khoai tây, và 3 ha sản xuất giống hoa), ươm 15.167 giống cây lâm nghiệp.
Bước đầu chủ động được nguồn giống cây trồng.
1.2. Hỗ trợ giống gia súc
(1) Hỗ trợ bổ sung thay thế đàn lợn nái (thực hiện Nghị quyết số 14/2010/NQ-HĐND ngày 9-12-2010):
Hỗ trợ 15.828 triệu đồng để bổ sung, thay thế 15.851 con lợn nái, bằng 22,54% nhu cầu (14.759 con lợn nái ngoại, nái lai F1, F2 và 1.092 con lợn nái Móng Cái).
Tỷ lệ lợn nái ngoại, nái lai tăng từ 20,42% lên 37,6%, trọng lượng bình quân xuất chuồng lợn thịt tăng từ 57,56 kg/con lên 73,07 kg/con; góp phần thay đổi tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi gia trại, trang trại.
(2) Sản xuất giống gốc lợn Móng Cái (thực hiện Quyết định số 1274/QĐ-UBND ngày 13-8-2012):
Hỗ trợ 2.200 triệu đồng để sản xuất và cung ứng sản phẩm giống gốc 2.728 con lợn nái Móng Cái (bằng 68,2% nhu cầu). Người dân, doanh nghiệp bảo đảm đối ứng 4.340,88 triệu đồng và đầu tư mở rộng 1.272 con nái Móng Cái giống gốc, tương ứng 2.890 triệu đồng.
Góp phần quan trọng nâng cao năng lực sản xuất, cung ứng giống lợn.
(3) Cải tạo đàn bò địa phương (thực hiện Nghị quyết số 14/2010/NQ-HĐND ngày 9-12-2010):
Hỗ trợ 867 triệu đồng mua 6.800 liều tinh bò nhóm Zebu (bằng 110,84% kế hoạch) cấp cho hộ nông dân để thụ tinh nhân tạo, cải tạo đàn bò địa phương.
Hạn chế tối đa tình trạng bò đồng huyết; 100% số bê sinh ra là bê lai Zebu, có tầm vóc lớn, hiệu quả kinh tế tăng 20% so với nuôi bê nội.
1.3. Hỗ trợ giống thủy sản
Hỗ trợ 3.453,98 triệu đồng thay mới 36,6 tấn cá nước ngọt bố mẹ các loại cho 14 trại sản xuất giống (bằng 30% nhu cầu); 1.000 triệu đồng xây mới 1 trại sản xuất giống thủy sản nước mặn và 3 trại sản xuất giống thủy sản nước ngọt (thực hiện Nghị quyết số 14/2010/NQ-HĐND ngày 9-12-2010).
Hỗ trợ 10.800,45 triệu đồng (bằng 70,04% nhu cầu) thay mới đàn giống gốc lưu giữ nguồn gen thủy sản nước ngọt, thả con giống thủy sản để tái tạo và bảo vệ nguồn gen tự nhiên, tập huấn về kỹ thuật ương giống thủy sản (thực hiện Quyết định số 1274/QĐ-UBND ngày 13-8-2012).
Giá trị sản xuất giống thủy sản tăng 128% (từ 183 tỷ đồng năm 2011 lên 235 tỷ đồng năm 2015); sản lượng con giống tăng gấp 1,8 lần (từ 1,2 tỷ con năm 2011 lên 2,2 tỷ con vào năm 2015).
2. Hỗ trợ phát triển sản xuất nông sản hàng hóa
Tổng kinh phí thành phố hỗ trợ giai đoạn 2011-2015 là 283.330,46 triệu đồng, bình quân mỗi năm là 56.666,09 triệu đồng; tập trung vào hạ tầng vùng chuyển đổi sản xuất tập trung, lãi suất trang trại, phát triển vụ Đông, phát triển khai thác hải sản, hỗ trợ thiết bị, vật tư và đào tạo, tập huấn.
2.1. Xây dựng vùng sản xuất tập trung (thực hiện Nghị quyết số 14/2010/NQ-HĐND ngày 9-12-2010):
(1) Xây dựng vùng sản xuất tập trung:
Hỗ trợ 71.914 triệu đồng (bằng 33,18% nhu cầu) chuyển đổi 190 vùng sản xuất tập trung với diện tích 3.060 ha (145 vùng sản xuất cây trồng, diện tích 2.326,3 ha; 8 vùng chăn nuôi, diện tích 66,3 ha và 37 vùng nuôi trồng thủy sản, diện tích 607,8 ha).
Các vùng sản xuất tập trung sau khi chuyển đổi mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn từ 1,5 đến 3,5 lần so với trước khi chuyển đổi.
(2) Phát triển trang trại chăn nuôi:
Xây dựng mới 469 trang trại chăn nuôi, bằng 41,23% nhu cầu (271 trang trại chăn nuôi lợn, 198 trang trại chăn nuôi gà), tổng số vốn vay 50.795 triệu đồng, thành phố hỗ trợ lãi suất vốn vay 8.102 triệu đồng.
Số lượng trang trại chăn nuôi tăng 36,37%, đàn lợn trong trang trại so với tổng đàn tăng từ 12% (năm 2011) lên 16,7% (năm 2015); đàn gia cầm từ 20% (năm 2011) lên 31,61% (năm 2015).
2.2. Phát triển sản xuất cây vụ Đông (thực hiện Nghị quyết số 14/2010/NQ-HĐND ngày 9-12-2010):
Hỗ trợ 12.900 triệu đồng (bằng 23,77% nhu cầu) mua nguyên liệu trồng nấm và phát triển sản xuất cây vụ Đông.
Nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất cây vụ Đông, giá trị sản xuất từ 906.180 triệu đồng (năm 2011) lên 1.132.100 triệu đồng (năm 2015); sản lượng nấm hàng năm là 138 tấn, giá trị đạt 4.140 triệu đồng.
2.3. Hỗ trợ nuôi tôm thẻ chân trắng vụ Đông (thực hiện Nghị quyết số 14/2010/NQ-HĐND ngày 9-12-2010):
Hỗ trợ 8.828,32 triệu đồng (bằng 28,39% nhu cầu) xây dựng 38,7 ha nhà bạt và giống tôm thẻ chân trắng nuôi vụ Đông trên diện tích 449,95 ha.
Dần hình thành vụ nuôi thứ 2 trong năm, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, mặt nước (diện tích nuôi thủy sản vụ Đông đạt trên 400 ha, tăng gấp 20 lần so với năm 2010); đẩy mạnh áp dụng các công nghệ mới và các quy trình thực hành nuôi tốt, hạn chế gây ô nhiễm môi trường.
2.4. Phát triển khai thác thủy sản
(1) Hỗ trợ để chuyển đổi cơ cấu nghề, số lượng tàu cá các tuyến khai thác trên biển, giảm khai thác tuyến bờ, tăng khai thác xa bờ gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản và phát triển khai thác bền vững, bảo đảm an toàn cho người và phương tiện nghề cá (thực hiện Nghị quyết số 14/2010/NQ-HĐND ngày 9-12-2010):
Hỗ trợ 3.494,71 triệu đồng (bằng 45,76% nhu cầu); trong đó 2.882,42 triệu đồng cho công tác tuyên truyền, in sổ nhật ký khai thác biển, đánh dấu tàu cá và 612,29 triệu đồng hỗ trợ lãi suất vốn vay đóng mới, cải hoán tàu.
Góp phần giảm cường lực khai thác ven bờ, tăng tàu khai thác xa bờ, nâng cao hiệu quả đánh bắt các loài có giá trị kinh tế cao; cơ bản bảo đảm an toàn cho người và phương tiện nghề cá.
(2) Thực hiện Hiệp định phân vịnh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác nghề cá Việt Nam - Trung Quốc trên địa bàn Hải Phòng (thực hiện Quyết định số 2535/QĐ-UBND ngày 2-11-2005):
Hỗ trợ 2.220 triệu đồng thực hiện cấp phép 1.173 lượt tàu khai thác thủy sản tham gia đáng bắt tại vùng nước theo quy định của hai Hiệp định; đào tạo 800 thuyền trưởng, máy trưởng tàu cá; trang bị 41 máy ICOM…
Nâng cao năng lực đi biển, trình độ tay nghề khai thác thủy sản cho ngư dân; hình thành các đội tàu, cụm tàu an toàn; tổ chức lại lực lượng khai thác theo các tuyến lộng, ven bờ, xa bờ; không để ngư dân bị phía Trung Quốc xử lý hành chính do vi phạm hai Hiệp định.
2.5. Khuyến khích các tổ chức, nông dân, ngư dân đầu tư áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
(1) Mô hình cơ giới hoá đồng bộ trong sản xuất lúa (thực hiện Quyết định số 2242/QĐ-UBND 21-12-2012):
Hỗ trợ 42.160 triệu đồng cho các tổ dịch vụ cơ giới hóa mua 265 máy nông nghiệp KUBOTA [5]; thực hiện cơ giới hóa khâu làm đất 3.020 ha (đạt 100% kế hoạch), gieo cấy bằng máy 2.650 ha (đạt 87,7%), gặt đập liên hợp 3.020 ha (đạt 100%).
Tại các cánh đồng áp dụng cơ giới hóa đồng bộ, chi phí sản xuất giảm từ 17,91% đến 26,26%; năng suất lúa tăng từ 4,25 đến 9,82 tạ/ha; lãi thuần tăng từ 6% đến 15% so với sản xuất đại trà; bảo đảm tiến độ thời vụ sản xuất.
(2) Hỗ trợ đầu tư trang thiết bị phục vụ sản xuất theo hướng công nghệ cao cho vùng sản xuất tập trung và cơ sở sản xuất giống cây trồng (thực hiện Nghị quyết số 14/2010/NQ-HĐND ngày 9-12-2010):
Hỗ trợ 1.267,69 triệu đồng (bằng 50% nhu cầu) xây dựng 7 kho lạnh (dung tích 1 kho 90 - 150 m3, bảo quản khoảng 240 tấn khoai tây hoặc 180 tấn thóc); nâng số kho lạnh trên địa bàn thành phố lên 28 kho (tổng dung tích 3.000 m3).
Bước đầu kiểm soát được nguồn giống, chủ động thời vụ sản xuất.
(3) Đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn hướng dẫn nông dân, ngư dân (thực hiện Nghị quyết số 14/2010/NQ-HĐND ngày 9-12-2010):
Hỗ trợ 31.322,6 triệu đồng mở 1.592 lớp tập huấn cho 81.120 lượt nông dân, ngư dân, thuyền trưởng, máy trưởng, thuyền viên tàu cá, các chủ trang trại, gia trại và cán bộ Hợp tác xã nông nghiệp, thủy sản…
Người dân tiếp nhận, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, quản lý điều hành tốt hơn; góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, thủy sản; tăng cường mối liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
(4) Thí điểm ứng dụng tiến bộ kỹ thuật sử dụng nguyên liệu phân bón vi sinh vật Sumitri trong xử lý rơm rạ sau khi thu hoạch lúa (thực hiện Quyết định số 1356/QĐ-UBND ngày 22-6-2015):
Hỗ trợ 1.259,14 triệu đồng, cung ứng cho nông dân 6,7 tấn phân bón vi sinh vật Sumitri xử lý rơm rạ sau khi thu hoạch lúa trên diện tích 1.903 ha.
Các chân ruộng có sử dụng sản phẩm Sumitri xử lý rơm rạ sau thu hoạch lúa sinh trưởng phát triển không bị vàng lá, nghẹt rễ; giảm ít nhất 2 đợt phun thuốc bảo vệ thực vật; giảm đốt rơm, rạ gây ô nhiễm môi trường.
2.6. Cải tạo, nâng cấp trạm bơm điện phục vụ sản xuất nông nghiệp (thực hiện Nghị quyết số 12/2009/NQ-HĐND ngày 23-7-2009):
Hỗ trợ 98.362 triệu đồng thực hiện cải tạo, nâng cấp 191 trạm bơm điện, nạo vét 34 tuyến kênh hút với chiều dài 18 km [6].
Bảo đảm an toàn trong quản lý vận hành, chủ động cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh, kinh tế thành phố. Tiết kiệm chi phí sản xuất, tiết kiệm điện năng (gần 800 nghìn KWh điện trong một năm).
3. Hỗ trợ bảo vệ môi trường lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
Tổng kinh phí thành phố hỗ trợ giai đoạn 2011-2015 là 170.282 triệu đồng, bình quân mỗi năm là 34.056,4 triệu đồng.
3.1. Xây dựng mới công trình (hầm biogas) xử lý chất thải của trang trại chăn nuôi (thực hiện Nghị quyết số 14/2010/NQ-HĐND ngày 9-12-2010):
Hỗ trợ 5.726 triệu đồng xây dựng mới 51 hầm biogas (bằng 71% kế hoạch) xử lý chất thải chăn nuôi tại các gia trại, trang trại chăn nuôi (tổng thể tích 107.350 m3).
3.2. Trồng cây phân tán trên địa bàn thành phố (thực hiện Quyết định số 1436/QĐ-UBND ngày 5-9-2012):
Hỗ trợ 12.944 triệu đồng thực hiện trồng 1,8 triệu cây phân tán (bằng 96,78% nhu cầu).
Góp phần chỉnh trang đô thị, cải tạo môi trường và tạo cảnh quan môi trường nông thôn.
3.3.Bảo vệ và phát triển rừng (thực hiện Nghị quyết số 26/2013/NQ-HĐND ngày 12-12-2013):
Trong 2 năm 2014 và 2015 thành phố hỗ trợ 4.623 triệu đồng (bằng 23,01% nhu cầu) thực hiện bảo vệ 35.978 lượt ha rừng (bằng 103% kế hoạch), khoanh nuôi tái sinh tự nhiên 3.100 lượt ha rừng đặc dụng (bằng 66%), trồng rừng mới 315 ha rừng phòng hộ (bằng 12,7%), trồng 3,6 ha cây cảnh quan ven đường tại trung tâm Vườn Quốc gia Cát Bà (bằng 100%), trồng 1,2 triệu cây phân tán khu vực nông thôn (bằng 34,08%).
3.4. Bảo vệ nguồn nước ngọt tại Sông Rế, sông Giá, sông Đa độ, sông Chanh Dương; kênh Hòn Ngọc, hệ thống trung thủy nông Tiên Lãng (thực hiện Nghị quyết số 23/2013/NQ-HĐND ngày 12-12-2013)
Thành phố chưa bố trí ngân sách để thực hiện.
3.5. Thu gom, xử lý chất thải rắn ở nông thôn (thực hiện Nghị quyết số 09/2010/NĐ-HĐND ngày 15-7-2010)
Thành phố bố trí 86.677 triệu đồng (bằng 24,89% nhu cầu) thực hiện: quy hoạch xây dựng 9 khu xử lý rác thải tập trung của các huyện, 1 khu xử lý rác thải tập trung cấp thành phố; 5 trạm trung chuyển rác; 279 ga thu gom rác trên địa bàn các huyện vào mạng lưới ga thu gom rác thải của thành phố; xây dựng mới 51 bãi chôn lấp rác tạm thời; nâng cấp 51 bãi chôn lấp chất thải rắn tạm thời; trang bị 1.252 xe đẩy tay thu gom, vận chuyển rác; xây dựng 8 mô hình xử lý rác thải sinh hoạt bằng lò đốt BD-Alpha trên địa bàn nông thôn.
Môi trường nông thôn đang ảnh hưởng lớn do rác thải, gây mất mỹ quan và ô nhiễm.
3.6. Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Trung ương và thành phố chú trọng đầu tư, hỗ trợ xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt, đáp ứng nhanh nhu cầu cho người nông dân thôn. Từ năm 2011 đến hết năm 2015, xây dựng được 54 hệ cấp nước tập trung [7], 4.182 nhà tiêu hợp vệ sinh; tổng kinh phí 129.373 triệu đồng (nhà nước hỗ trợ 60.312 tỷ đồng, nhân dân và doanh nghiệp đóng góp 69.061 triệu đồng).
Cải thiện rất lớn chất lượng nước sinh hoạt cho người dân nông thôn.
4. Tăng cường công tác quản lý nhà nước chuyên ngành về nông nghiệp, thủy sản và an toàn thực phẩm
Tổng kinh phí thành phố hỗ trợ giai đoạn 2011-2015 là 206.111,13 triệu đồng, bình quân mỗi năm là 41.222,23 triệu đồng.
4.1. Rà soát, bổ sung quy hoạch phát triển nông nghiệp, thủy sản (thực hiện Nghị quyết số 14/2010/NQ-HĐND ngày 9-12-2010)
Thành phố phê duyệt kinh phí 18.939,1 triệu đồng, giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với các sở, ngành, cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức xây dựng 13 quy hoạch về nông nghiệp và phát triển nông thôn [8].
Các quy hoạch hoàn thành là cơ sở quan trọng để xây dựng kế hoạch sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xây dựng các vùng sản xuất tập trung, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
4.2. Phòng, chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm và dịch hại cây trồng (thực hiện Nghị quyết số 14/2010/NQ-HĐND ngày 9-12-2010)
Hỗ trợ 9.452,35 triệu đồng, mua 17,5 tấn thuốc diệt chuột (bằng 66,67% nhu cầu), cấp cho các địa phương. Diện tích chuột hại cây trồng giảm 46% so với những năm trước 2010.
Bố trí 162.422,49 triệu đồng (bằng 98,83% nhu cầu) tiêm vắc xin phòng các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm, khử trùng tiêu độc phòng chống dịch; tiêm phòng đạt từ 94,23% đến 97,46% đàn gia súc đối với các bệnh tụ huyết trùng, lở mồm long móng, 3 bệnh đỏ; từ 79,46% đến 88,29% đàn gia cầm đối với các bệnh cúm gia cầm, dịch tả vịt, niu-cát-xơn.
4.3. Quản lý nhà nước về vật tư chuyên ngành nông nghiệp, thủy sản (thực hiện Nghị quyết số 14/2010/NQ-HĐND ngày 9-12-2010)
Hỗ trợ 4.569 triệu đồng thực hiện kiểm tra, đánh giá phân loại cơ sở sản xuất, kinh doanh thủy sản, thức ăn chăn nuôi; tuyên truyền về các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật về quản lý, sử dụng vật tư trong nông nghiệp, thủy sản; cấp chứng chỉ người lấy mẫu về phân bón, giống cây trồng và cho công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành [9].
Nâng cao nhận thức về sự tuân thủ luật pháp trong quá trình sản xuất, kinh doanh trong nông nghiệp, thủy sản. Đáp ứng yêu cầu quản lý chất lượng giống cây trồng, vật nuôi và vật tư trong sản xuất.
4.4. Mức thù lao hàng tháng cho cán bộ thú y xã, phường, thị trấn (thực hiện Nghị quyết số 14/2010/NQ-HĐND ngày 9-12-2010):
Hỗ trợ 13.638,68 triệu đồng trả thù lao hàng tháng (tương đương hệ số 1,0 so với mức lương tối thiểu) cho cán bộ thú y 219 xã, phường, thị trấn.
Cơ bản đáp ứng nhu cầu về nhân lực trong công tác thú y cơ sở.
5. Đánh giá tình hình thực hiện các chương trình, nghị quyết khuyến khích sản xuất nông nghiệp, thủy sản giai đoạn 2011-2015
5.1. Kết quả đạt được
(1) Kết quả chung:
Việc thực hiện các cơ chế, chính sách, tạo động lực thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy sản, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật được tăng cường, góp phần tích cực trong việc xây dựng nông thôn mới, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội thiết thực, giá trị sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản toàn thành phố giai đoạn 2011-2015 tăng bình quân hàng năm 3,92%; trong đó: nông nghiệp tăng 2,36% (trồng trọt tăng 0,32%, chăn nuôi tăng 4,06%, dịch vụ nông nghiệp tăng 13,15%); thủy sản tăng 8,31% (nuôi trồng và dịch vụ tăng 7,54%, khai thác tăng 9,26%); lâm nghiệp tăng 1,28%.
Diện tích đất canh tác giảm bình quân 1,08%/năm (diện tích gieo cấy lúa giảm trên 1.000 ha/năm); chính sách hỗ trợ của thành phố tạo điều kiện thuận lợi để các địa phương chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng; năng suất lúa giai đoạn 2011-2015 tăng bình quân 0,98%/năm, giữ ổn định sản lượng lương thực khoảng 490 nghìn tấn/năm. Sản lượng thịt hơi các loại tăng bình quân 2,46%/năm; trứng gia cầm tăng 5,42%/năm. Tỷ trọng giá trị sản xuất chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng từ 42,11% năm 2010 lên 46,37% năm 2015. Sản lượng thủy sản liên tục tăng, bình quân cả giai đoạn nuôi trồng tăng 3,45%/năm, khai thác tăng 3,46%/năm.
Kết cấu hạ tầng sản xuất nông nghiệp được nâng cấp, từng bước bảo đảm phục vụ sản xuất theo hướng hiện đại; bộ mặt nông thôn tiếp tục đổi mới; môi trường nông nghiệp, nông thôn từng bước được cải thiện. Đời sống của nông dân, ngư dân được nâng lên một bước, thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn tăng từ 19,2 triệu đồng năm 2011 lên 34,08 triệu đồng năm 2015; an ninh lương thực, an sinh xã hội được bảo đảm, tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn giảm từ 5,18% năm 2011 xuống còn 1,58% năm 2015.
Trong những năm kinh tế thành phố gặp khó khăn, sản xuất nông nghiệp, thủy sản liên tục giữ vững nhịp độ phát triển, đã góp phần quan trọng duy trì tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội trên địa bàn thành phố. Công tác phòng ngừa, ứng phó thiên tai, dịch bệnh được thực hiện tốt, giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản.
(2) Nông nghiệp, thủy sản từng bước phát triển nhanh theo hướng mở rộng sản xuất hàng hóa tập trung an toàn thực phẩm:
- Giá trị sản xuất tại các vùng sản xuất trồng trọt tập trung đạt bình quân 130 triệu đồng/ha/năm, tăng 26% so với bình quân chung. Mô hình cánh đồng mẫu lớn năng suất cao hơn 10%, chi phí sản xuất giảm từ 5 đến 7%, thu nhập cao hơn 15% so với sản xuất đại trà.
- Sản xuất chăn nuôi chuyển mạnh sang phương thức chăn nuôi tập trung, quy mô trang trại, gia trại, bảo đảm an toàn dịch bệnh; số lượng hộ chăn nuôi an toàn sinh học tăng. Chủ động đáp ứng được 100% giống lợn và 30% giống gia cầm phục vụ chăn nuôi trên địa bàn thành phố.
- Nuôi trồng thủy sản từng bước phát triển theo hướng thâm canh và bán thâm canh với các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao. Cung cấp đủ lượng giống thủy sản nước ngọt cho nhu cầu của Hải Phòng và một số tỉnh phía Bắc; đáp ứng một phần nhu cầu giống thủy sản nước mặn.
- Khai thác thủy sản phát triển theo hướng đẩy mạnh đánh bắt hải sản vùng biển xa bờ gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo và bảo vệ nguồn lợi.
- Người dân được làm quen với những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ sản xuất mới. Năng suất lao động, năng suất cây trồng, vật nuôi tăng nhanh.
- Hộ nông dân mạnh dạn đầu tư máy móc sản xuất nông nghiệp, giảm công lao động, giảm tổn thất sau thu hoạch; thúc đẩy hình thành các vùng sản xuất tập trung quy mô lớn. Máy móc cơ giới được tăng cường đưa vào sản xuất, nhất là các khâu lặng nhọc như làm đất, vận chuyển, ra hạt; máy cấy lúa được nhanh chóng ứng dụng, số lượng máy trong các mô hình cơ giới hóa đồng bộ là 86 chiếc, vượt 186% so với kế hoạch đề ra.
- Công tác dồn điền đổi thửa đạt được một số kết quả đáng khích lệ: Toàn thành phố có 9.571 ha đất được dồn đổi (huyện Tiên Lãng 6.311 ha), chiếm 23,34% so với tổng diện tích đất canh tác. Số thửa ruộng trên hộ trước đây từ 3 đến 7 thửa, sau khi tiến hành dồn điền, đổi thửa chỉ tiêu này đạt 2 đến 3 thửa. Một số địa phương sau khi tiến hành dồn điền đổi thửa, số thửa ruộng của hộ còn 1 hoặc 2 thửa như ở một số xã thuộc huyện Tiên Lãng và huyện Vĩnh Bảo. Việc dồn điền, đổi thửa là điều kiện tiên quyết để xây dựng bền vững vùng sản xuất hàng hóa tập trung, tạo điều kiện thuận lợi để áp dụng cơ giới hóa đồng bộ các khâu sản xuất, đồng ruộng được chỉnh trang. Tuy nhiên đến nay, thành phố chưa có cơ chế, chính sách cụ thể để thúc đẩy công tác dồn điền đổi thửa. Năm 2015, UBND thành phố có Quyết định số 2663/QĐ-UBND ngày 24-11-2015 về việc phê duyệt Kế hoạch thí điểm hỗ trợ kinh phí dồn điền, đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp trên diện tích 3.689 ha (438 ha đo vẽ bản đồ, cấp Giấy chứng nhận), kinh phí hỗ trợ 6.000 triệu đồng. Năm 2016, đề nghị tiếp tục hỗ trợ các địa phương kinh phí dồn điền, đổi thửa theo cơ chế tại Quyết định số 2663/QĐ-UBND ngày 24-11-2015, đồng thời giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham mưu UBND thành phố xây dựng đề án thực hiện nội dung này.
(4) Môi trường nông nghiệp, nông thôn được quan tâm bảo vệ:
Đến hết năm 2015: Tỷ lệ người dân nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh đạt 98,6% (trong đó đạt QCVN Quy chuẩn 02:2009/BYT - ban hành theo thông tư số 05/2009/TT-BYT ngày 17-6-2009 của Bộ Y tế là 67%); tỷ lệ người nghèo nông thôn được cấp nước nước hợp vệ sinh 85,54%. Tỷ lệ số hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt tiêu chuẩn là 85%.
- Năm 2015 các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khai thác công trình thủy lợi cân đối 8.270 triệu đồng từ nguồn thu thủy lợi phí thực hiện các hạng mục: cắm mốc chỉ giới hành lang bảo vệ nguồn nước cho sông Giá, sông Đa Độ, sông Rế, sông Chanh Dương, kênh Hòn Ngọc; bảo đảm hành lang bảo vệ của sông, hạn chế việc xả thải trực tiếp vào hệ thống cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu; phân định ranh giới, phạm vi bảo vệ các tuyến sông giao cho các công ty quản lý, tránh được vi phạm lấn chiếm, xả thải…
- Vốn rừng hiện có được bảo vệ, nâng cao chức năng phòng hộ, ứng phó biến đổi khí hậu; góp phần chỉnh trang, cải tạo môi trường, tạo cảnh quan môi trường.
- 100% số xã thành lập các tổ thu gom vận chuyển chất thải rắn hoặc ký hợp đồng thu gom, vận chuyển chất thải rắn với doanh nghiệp, công ty có chức năng; xây dựng nhiều mô hình thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn ở nông thôn đạt hiệu quả cao. Tỷ lệ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn ở nông thôn đạt 85,3% (tương đương 234.281 tấn).
- Các trang trại chăn nuôi được xây dựng hầm biogas đã hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường, có nguồn khí gas sử dụng phục vụ sinh hoạt.
(5) Phòng, chống dịch bệnh động vật và dịch hại cây trồng bảo vệ sản xuất đạt hiệu quả, công tác bảo đảm an toàn thực phẩm được tăng cường:
- Kiểm soát diễn biến dịch, hạn chế bệnh lây lan ra diện rộng, bảo vệ sản xuất chăn nuôi; đến nay qua 9 năm đối với dịch lở mồm long móng gia súc, 6 năm đối với dịch tai xanh ở lợn và 14 tháng đối với bệnh cúm gia cầm được khống chế trên địa bàn thành phố.
- Dự báo chính xác, tổ chức phòng trừ dịch hại cây trồng kịp thời, không để xảy ra tình trạng mất mùa do dịch hại. Diện tích chuột hại cây trồng giảm 46% so với những năm trước 2010. Tăng cường các giải pháp kỹ thuật hạn chế sử dụng thuốc hóa học trong bảo vệ thực vật.
- Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm chuyển biến tích cực: Tổ chức thống kê, lập danh sách các cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm và vật tư trong lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản; hàng năm kiểm tra, đánh giá, phân loại từ 600 đến trên 800 cơ sở. Tiến hành 108 cuộc thanh tra, kiểm tra 3.166 cơ sở về an toàn thực phẩm. Lấy 1.673 mẫu vật tư nông nghiệp và các sản phẩm nông lâm thủy sản gửi đi phân tích các chỉ tiêu an toàn thực phẩm. Ý thức chấp hành pháp luật về an toàn thực phẩm của người sản xuất, bảo quản, chế biến nông sản, thủy sản và người tiêu dùng từng bước được nâng lên.
5.2. Những hạn chế
(1) Hạn chế chung:
- Cơ chế chính sách giai đoạn 2013-2015 bảo đảm tốt an sinh, nhưng chưa huy động tốt nguồn lực để chuyển đổi nền sản xuất sang quy mô lớn, giá trị cao. Chỉ 5% - 10% sản phẩm có thương hiệu, tiêu thụ theo hợp đồng và nên giá bán rất thấp; năng suất lao động nông nghiệp không cao. Nhiều bộ phận người dân nông thôn còn rất khó khăn, là hệ quả của nền sản xuất quy mô nhỏ, đất đai quá manh mún. Việc cấp Giấy chứng nhận trang trại, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi các hộ, doanh nghiệp dồn đổi ruộng đất còn chậm.
- Nặng về chính sách hỗ trợ, thiếu cơ chế đủ mạnh phù hợp để phát huy tốt hơn nguồn lực ngân sách, huy động nguồn lực doanh nghiệp, xã hội yếu; nguồn tín dụng đầu tư cho sản xuất nông nghiệp còn hạn chế.
- Chính sách mới quan tâm sản xuất, chưa chú trọng khuyến khích khâu tiêu thụ, chế biến - đây là mắt xích quan trọng nhất trong sản xuất hàng hóa.
- Hỗ trợ giai đoạn vừa qua rất dàn trải, trong điều kiện nguồn lực có hạn nên nhiều chính sách chưa phát huy hiệu quả, chưa tạo động lực thực sự cho phát triển sản xuất, tạo tâm lý trông chờ hỗ trợ từ ngân sách.
- Doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nông nghiệp chịu nhiều rủi ro, nhưng chưa có cơ chế chính sách ưu đãi, khuyến khích đủ mạnh để thu hút đầu tư, nên số lượng doanh nghiệp vào nông nghiệp rất hạn chế, vì vậy chưa hình thành rõ nét của sản xuất hàng hóa lớn, công nghệ cao chưa được áp dụng vào sản xuất.
- Thiếu cơ chế chính sách đất đai, vốn, chưa quan tâm đến cơ chế, chính sách phát triển ngành nghề nông thôn.
(2) Hạn chế trong việc đề xuất và triển khai thực hiện:
- Việc tham mưu, đề xuất cơ chế, chính sách còn dàn trải, thiếu tập trung vào các khâu trọng yếu. Chưa hỗ trợ đúng, trúng các khâu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm an toàn thực phẩm.
- Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn chậm triển khai. Bố trí vốn đối ứng thực hiện Dự án cạnh tranh ngành chăn nuôi và an toàn thực phẩm thành phố Hải Phòng (LIFSAP) và Dự án Nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp và Phát triển chương trình khí sinh học (QSEAP); một số chính sách do thành phố ban hành chưa được thực hiện (kinh phí bảo vệ nguồn nước ngọt, hỗ trợ xây dựng vùng nuôi nhuyễn thể tập trung tại đảo Bạch Long Vỹ, các xã trọng điểm về thủy sản chưa được bố trí cán bộ theo dõi…); mức đầu tư của thành phố chưa bảo đảm kế hoạch cho nâng cấp, cải tạo trạm bơm điện (đạt 29% nhu cầu); thu gom, xử lý chất thải rắn (đạt 24,89% nhu cầu); bảo vệ, phát triển rừng (đạt 23,01% nhu cầu)…
- Nhiều cơ chế, chính sách được thành phố ban hành nhằm khuyến khích phát triển toàn diện sản xuất nông nghiệp, thủy sản, kinh tế nông thôn; tuy nhiên việc phối hợp triển khai thực hiện của các ngành, các địa phương còn lúng túng. Hướng dẫn tổ chức thực hiện còn có nội dung chưa sát với thực tiễn. Chậm tổng kết, đánh giá, bổ sung, sửa đổi cơ chế, chính sách để phù hợp giai đoạn mới.
- Triển khai thực hiện một số chính sách do Trung ương ban hành còn chậm, thiếu sáng tạo trong vận dụng vào thực tiễn địa phương. Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19-12-2013 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn chậm triển khai.
(3) Hạn chế trong nội tại các cơ chế, chính sách:
- Một số nội dung hỗ trợ còn mang tính dàn trải, hiệu quả chưa cao, không thay đổi theo nhu cầu thực tiễn, như: sản xuất giống lúa thuần, mô hình trình diễn giống lúa mới, bán phân bón chậm trả cho nông dân với lãi suất thấp, phát triển sản xuất cây vụ Đông (mới chỉ đạt gần 75% tiềm năng diện tích), bình tuyển đàn lợn nái, thay thế, bổ sung lợn nái lai F1…
- Sản xuất giống còn nhiều hạn chế, chưa tạo ra năng suất, chất lượng sản phẩm cao:
+ Giống cây trồng: Hỗ trợ tập trung quá cao vào giống lúa thương phẩm; sản xuất, duy trì giống lúa mới, giống lúa bố mẹ chưa được quan tâm đúng mức (kinh phí hỗ trợ giống lúa thương phẩm gấp 23,77 lần so với hỗ trợ sản xuất giống lúa bố mẹ). Sản xuất giống cây trồng khác chưa được chú trọng hỗ trợ (5 năm mới hỗ trợ 3 ha sản xuất giống hoa, 20 ha sản xuất giống khoai tây).
+ Cơ sở cung ứng giống chăn nuôi phục vụ sản xuất ít, quy mô nhỏ; đơn vị nuôi giữ đàn lợn giống gốc chưa phát huy tốt vai trò; chất lượng lợn giống chưa cao (chỉ đạt 50% máu ngoại). Quy mô đàn gia súc, gia cầm nuôi trong trang trại chiếm tỷ lệ thấp; đàn lợn nuôi trong trang trại so với tổng đàn đạt khoảng 17%, đàn gia đạt khoảng 32%.
+ Chưa sản xuất được một số giống như: tôm thẻ chân trắng, cá song… Một số cơ sở sản xuất giống thủy sản xuống cấp, công nghệ lạc hậu (có 18/28 trại sản xuất và dịch vụ giống thủy sản xây dựng trước năm 2000; trong đó có 4 trại sản xuất giống thủy sản nước ngọt xây dựng trước năm 1970).
- Phát triển sản xuất hàng hóa tập trung không tương xứng với tiềm năng, lợi thế của thành phố:
+ Ruộng đất phân tán, manh mún, không bằng phẳng; công tác đồn điền, đổi thửa chậm, tích tụ ruộng đất chưa lớn; thực hiện chuyển đổi vùng sản xuất tập trung đạt 35,01% kế hoạch giai đoạn 2011-2015. Đường giao thông nội đồng chưa đáp ứng yêu cầu sử dụng máy móc vào sản xuất.
+ Diện tích cây vụ Đông chưa đáp ứng tiềm năng có thể mở rộng (khoảng 15.000 ha); áp dụng cơ giới hóa hạn chế, sản phẩm tiêu thụ không ổn định.
+ Hộ nông dân chưa hình thành thói quen sử dụng chế phẩm sinh học xử lý rơm rạ sau thu hoạch (mới đạt 22,89%).
+ Số lượng trang trại chăn nuôi xây dựng mới chỉ đạt 41,4% kế hoạch giai đoạn 2011-2015, quy mô đàn gia súc, gia cầm nuôi trong trang trại chiếm tỷ lệ thấp; tính liên kết trong phát triển kinh tế trang trại chưa cao.
+ Phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng vụ Đông đạt 92% kế hoạch, năng suất nuôi bình quân 8,7 tấn/ha thấp so với chỉ tiêu 10 tấn/ha; diện tích làm nhà bạt chỉ đạt 16,28% kế hoạch.
+ Chưa triển khai thực hiện hỗ trợ một lần 10% kinh phí đóng mới 75 ô lồng (50 m3/ô lồng trở lên) nuôi thủy sản vùng biển mở; 10% kinh phí đầu tư xây dựng vùng nuôi nhuyễn thể tập trung ở vùng triều ven biển (Bạch Long Vỹ, Cát Hải, Tiên Lãng, Đồ Sơn…).
+ Số lượng tàu đánh bắt xa bờ còn thấp; chưa phân định ranh giới trên biển với các tỉnh Thái Bình, Quảng Ninh; vẫn còn tình trạng khai thác mang tính hủy diệt nguồn lợi thủy sản. Một số nội dung thực hiện hai Hiệp định nghề cá trên biển giữa Việt Nam - Trung quốc chậm triển khai, như: chuyển giao công nghệ khai thác hải sản bằng lưới vây rút, xây dựng trạm kiểm ngư Thủy Nguyên…
+ Liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm chậm hình thành, không bền vững. Chất lượng sản phẩm chưa được kiểm soát chặt chẽ nên sản phẩm nông nghiệp Hải Phòng hầu hết không đáp ứng được các đơn đặt hàng lớn của các công ty trong và ngoài nước, rất ít sản phẩm nông nghiệp của nông dân Hải Phòng vào được các siêu thị lớn trên địa bàn…
+ Tỷ lệ lao động được tập huấn, bồi dưỡng còn thấp (mới đạt khoảng 25 - 30% có nhu cầu), thời gian tập huấn, bồi dưỡng ngắn, nội dung đơn điệu, chậm đổi mới, chưa gắn với thực tiễn, chưa phù hợp với đối tượng sản xuất.
+ Diện tích áp dụng cơ giới hóa đồng bộ còn thấp, nhất là trong các khâu thu hoạch, bảo quản, chế biến). Kinh phí mua sắm máy móc, thiết bị cơ giới hóa lớn, người dân gặp khó khăn về vốn; mức độ đáp ứng yêu cầu máy móc phục vụ cơ giới hóa đồng bộ còn thấp: máy làm đất đạt 9,78% nhu cầu, máy gặt đập liên hợp đạt 29,24%, kho lạnh đạt 5%, máy phun thuốc bảo vệ thực vật dưới 1%.
+ Số lượng kho lạnh (28 kho) mới bảo quản khoảng 83,61% lượng giống khoai tây hoặc 26,7% lượng thóc giống; chưa đáp ứng yêu cầu bảo quản nông sản theo thời vụ sản xuất.
+ Sau 6 năm thực hiện mới cải tạo nâng cấp được 29% số lượng trạm bơm điện cần nâng cấp, cải tạo.
- Công tác quản lý nhà nước còn có bất cập, cần tháo gỡ kịp thời:
+ Một số đề án, quy hoạch chất lượng chưa cao, chưa thực sự phù hợp với quy hoạch xây dựng nông thôn mới hoặc một số quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương, tiến độ triển khai thực hiện chậm, dễ bị phá vỡ.
+ Chính sách quản lý đất đai còn nhiều bất cập, tạo rào cản đối với phát triển nông nghiệp sản xuất quy mô lớn và khả năng áp dụng tiến bộ kỹ thuật; ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất.
+ Tỷ lệ tiêm phòng một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm chưa bảo đảm tỷ lệ bảo hộ phòng dịch từ 70% tổng đàn trở lên. Hỗ trợ thuộc diệt chuột mới đạt 66,67% nhu cầu.
+ Thiếu các thiết bị chuyên dụng, trang thiết bị phục vụ công tác quan trắc, kiểm tra, giám sát, phân loại cơ sở sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, thủy sản.
+ Hàng năm, mới đánh giá, phân loại 11,34% tổng số cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc diện phải kiểm tra, đánh giá, phân loại.
+ Thiếu cán bộ chuyên trách về thủy sản tại các xã trọng điểm thủy sản. Những người làm công tác thú y ở thôn, cụm dân cư chưa được hỗ trợ kinh phí, chỉ được hưởng công khi trực tiếp tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm.
- Công tác bảo vệ môi trường kết quả còn hạn chế:
+ Tỷ lệ cấp nước sạch đạt theo Quy chuẩn QCVN 02:2009/BYT cho người dân nông thôn còn thấp, công tác kiểm tra, giám sát thiếu chặt chẽ, chưa thường xuyên. Các công trình cấp nước nông thôn có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, nguồn nước cấp bị ô nhiễm, hạ tầng cơ sở xuống cấp, ít được nâng cấp làm ảnh hưởng đến chất lượng nước thành phẩm.
+ Chất lượng nguồn nước thô phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp sạch chưa đáp ứng yêu cầu, thành phố chưa bố trí ngân sách để thực hiện Nghị quyết số 23/2013/NQ-HĐND ngày 12-12-2013 của HĐND thành phố về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp bảo vệ nguồn nước ngọt tại sông Rế, sông Giá, sông Đa Độ, sông Chanh Dương; kênh Hòn Ngọc, hệ thống trung thủy nông Tiên Lãng trên địa bàn thành phố giai đoạn 2013-2020.
+ Chưa có quy hoạch hệ thống tiêu thoát, xử lý nước thải nông thôn.
+ Ngân sách của thành phố, địa phương bố trí cho việc thu gom, xử lý chất thải rắn ở nông thôn thấp, không đạt kế hoạch đề ra. Thu gom, xử lý chất thải rắn ở nông thôn chưa chuyên nghiệp, lao động tham gia chủ yếu là làm thêm, chưa có chính sách để hỗ trợ các đối tượng này. Rác thải chưa được phân loại từ đầu nguồn nên việc xử lý rác bằng lò đốt còn gặp nhiều khó khăn; công nghệ xử lý lạc hậu.
+ Diện tích đất lâm nghiệp xu hướng bị thu hẹp, do nhu cầu chuyển đổi sang mục đích sử dụng khác phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố; rừng tự nhiên chủ yếu là rừng nghèo, trữ lượng thấp; rừng phòng hộ ven biển có đai rừng mỏng, phân bố không đều chưa đáp ứng chức năng phòng hộ môi sinh môi trường và phòng, chống thiên tai. Công tác thiết lập hồ sơ quản lý, giao khoán cây sau trồng chậm được thực hiện.
+ Kinh phí hỗ trợ xây dựng hầm biogas mới đạt 88,36% nhu cầu, trong khi nhu cầu xây dựng công trình, áp dụng công nghệ mới vào xử lý chất thải chăn nuôi lớn.
(4) Một số hạn chế do yếu tố khách quan:
- Nhiều quy hoạch trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thiếu bền vững, bị phá vỡ do phát triển các ngành kinh tế - xã hội khác; tiến độ thực hiện một số đề án quy hoạch còn chậm, thiếu quy hoạch chi tiết.
- Cơ sở hạ tầng nông thôn, hạ tầng sản xuất nông nghiệp, thủy sản (đường giao thông, hệ thống thủy lợi nội đồng, hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản…) còn nhiều yếu kém, thiếu đồng bộ, không đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa lớn, nhất là đối với những vùng sản xuất tập trung theo quy hoạch.
- Nông dân phần lớn thích sản xuất tự do, nhỏ lẻ, không theo quy trình kỹ thuật, dễ phá vỡ hợp đồng đã ký, sản phẩm chưa bảo đảm an toàn thực phẩm…
- Nhận thức của nhiều người dân ở nông thôn về vấn đề môi trường, thu gom và xử lý chất thải rắn, bảo vệ môi trường còn hạn chế; lượng rác thải ngày càng tăng, biện pháp xử lý chưa triệt để.
5.3. Nguyên nhân chủ yếu của hạn chế
(1) Sản xuất nông nghiệp chịu rủi ro cao ở cả khâu sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ, do thiên tai, bất ổn kinh tế và đặc điểm của sản xuất nông sản.
(2) Nguồn lực ngân sách còn hạn chế, nhiều chính sách ban hành, song thiếu nguồn lực đầu tư nên mức hỗ trợ thấp, khó phát huy hiệu quả.
(3) Khu vực nông thôn hạ tầng khó khăn, trang thiết bị thiếu, lạc hậu; lực lượng lao động trẻ đang chuyển dịch nhanh sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ; thiếu lao động kỹ thuật có tay nghề chuyên sâu, đáp ứng hình thức sản xuất quy mô lớn, áp dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến.
(4) Chưa thấy hết được khó khăn của doanh nghiệp nông nghiệp, nên đầu tư hỗ trợ cho doanh nghiệp nông nghiệp còn hạn chế.
(5) Chưa thấy rõ vai trò đầu tàu trung tâm của doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi từ nhỏ lẻ sang quy mô lớn để có nguồn lực đầu tư thỏa đáng; đồng thời có tác động quan trọng để liên kết nông dân tạo sản phẩm với khối lượng lớn, ổn định, gắn nhãn mác, thương hiệu, có sức cạnh tranh trên thị trường.
(6) Sản phẩm nông nghiệp, thủy sản, nông thôn ít được quan tâm để chứng nhận nhãn hiệu, truy xuất nguồn gốc hàng hóa, chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm.
(7) Sản xuất nhỏ kìm hãm áp dụng tiến bộ kỹ thuật, ứng dụng công nghệ cao và kìm hãm phương thức sản xuất mới…
(8) Cơ cấu tổ chức chuyên ngành còn thiếu, yếu khâu xúc tiến tiêu thụ sản phẩm - khâu quan trọng kết nối, tạo chuỗi trong sản xuất hàng hóa nông sản.
(9) Thiếu hệ thống phân phối, cung ứng nông sản theo chuỗi.
II. THỰC HIỆN CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG ƯƠNGHỖ TRỢSẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP, THỦY SẢN GIAI ĐOẠN 2011-2015
Giai đoạn 2011-2015, Trung ương đã ban hành 3 nghị định và 8 quyết định về cơ chế, chính sách hỗ trợ nông nghiệp, thủy sản [10].
1. Thực hiện Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg ngày 4-9-2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015-2020
- UBND thành phố ban hành Quyết định số 1824/QĐ-UBND về việc Phê duyệt kế hoạch hỗ trợ hộ chăn nuôi sử dụng đệm lót sinh học trên địa bàn thành phố năm 2015. Hỗ trợ 10.000 triệu đồng cho 1.720 hộ chăn nuôi sử dụng đệm lót sinh học BALASA N01 [11] (1.662 mô hình chăn nuôi gia cầm và 58 mô hình chăn nuôi lợn); tổng diện tích đệm lót sinh học 209.760 m2.
- Thực hiện chính sách hỗ trợ ứng dụng đệm lót sinh học chăn nuôi gia súc, gia cầm tạo điều kiện thuận lợi để các hộ mạnh dạn đầu tư sửa chữa, nâng cấp hoặc làm mới chuồng trại, hạn chế ô nhiễm môi trường nước, không khí; góp phần hình thành cách thức sản xuất thân thiện với môi trường sống, tạo nguồn thực phẩm an toàn.
- Việc chăn nuôi trên nền đệm lót đòi hỏi phải cải tạo chuồng nuôi; nuôi thâm canh với mật độ cao ở những hộ có diện tích hẹp gặp khó khăn.
2. Thực hiện Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg ngày 9-1-2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
2.1. Sản xuất trồng trọt
Năm 2016, UBND thành phố hỗ trợ 1.484 triệu đồng, triển khai tại 6 huyện, quận. Tổ chức tập huấn, cấp xác nhận kiến thức và phân tích mẫu đất, nước.
- Cấp 20 giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện sản xuất ban đầu bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; hỗ trợ tem, nhãn bao bì, logo, bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa cho 10 cơ sở sản xuất rau củ quả, nấm, gạo chất lượng cao, đã có 25 sản phẩm được gắn tem truy xuất tới hộ nông dân và cơ sở sản xuất. Sản phẩm sản xuất bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, giá trị sản xuất tăng 1,3 - 1,8 lần so với sản xuất đại trà.
2.2. Sản xuất thủy sản
- Hỗ trợ 1.402,3 triệu đồng áp dụng thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (VietGap), tổng diện tích là 107 ha (nuôi tôm thẻ chân trắng 4 ha, nuôi cá rô phi 3 ha, nuôi cá vược 100 ha) [12].
- Giống và vật tư đầu vào trong nuôi trồng thủy sản như: con giống, thức ăn, chế phẩm sinh học… được quản lý theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trong nuôi trồng thủy sản. Thu hút các doanh nghiệp, nhà đầu tư vào mở rộng sản xuất nuôi trồng thủy sản theo quy mô hàng hóa bảo đảm an toàn thực phẩm.
- Do hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thành phố còn nhỏ lẻ, manh mún, trình độ của người dân còn hạn chế, thiếu vốn đầu tư nên việc đẩy mạnh áp dụng quy trình thực hành nuôi trồng thủy sản tốt chưa được áp dụng rộng rãi.
3. Thực hiện Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25-10-2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn
- UBND thành phố ban hành Quyết định số 2592/QĐ-UBND ngày 13-11-2015; hỗ trợ 2.000 triệu đồng, thực hiện 8 mô hình, diện tích 255 ha, trên địa bàn 6 huyện, quận (hỗ trợ 30% giá giống mới cho năm đầu sản xuất, 30% thuốc bảo vệ thực vật, 30% công phun thuốc).
- Cánh đồng lớn sản xuất dưa vàng Kim Hoàng Hậu tại xã Tân Hưng Vĩnh Bảo, năng suất đạt 18,5 - 22,4 tấn/ha, giá trị lợi nhuận đạt 180 - 220 triệu đồng/ha; cánh đồng lớn sản xuất ngô LVN 61 tại xã Thắng Thủy năng suất đạt 6,0 - 6,5 tấn/ha, giá trị lợi nhuận đạt 22,5 - 24,5 triệu đồng/ha.
4. Thực hiện Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14-11-2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp
Có 243 hộ tham gia vay vốn mua máy, thiết bị của hãng Kubota phục vụ sản xuất (84 máy làm đất, 145 máy gặt đập liên hợp, 2 giàn gieo mạ tự động; 7 máy cấy) với tổng kinh phí các hộ đã vay ngân hàng là 74 tỷ đồng.
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VIỆC THỰC HIỆN CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCHCỦA TRUNG ƯƠNG VÀ THÀNH PHỐ
Các chính sách của Trung ương tập trung vào các nội dung: nâng cao hiệu quả sản xuất nông hộ; thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; giảm tổn thất trong sản xuất nông nghiệp; hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy sản ứng dụng công nghệ cao…
Các chính sách của thành phố tập trung vào các nội dung: khuyến khích mở rộng vùng sản xuất hàng hóa tập trung, an toàn thực phẩm; đẩy mạnh áp dụng tiến bộ kỹ thuật; tăng cường công tác quản lý nhà nước chuyên ngành; hạn chế ô nhiễm môi trường…
Các chính sách của thành phố ban hành phù hợp với quy định của Trung ương, không chồng chéo với các cơ chế, chính sách của Trung ương; phù hợp tình hình thực tiễn của Hải Phòng.
Nguồn kinh phí thành phố đầu tư thực hiện các cơ chế, chính sách (của trung ương và thành phố) hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy sản và kinh tế nông thôn giai đoạn 2011-2015 là 739.970,53 triệu đồng; trong đó:
- Hỗ trợ thực hiện theo các cơ chế, chính sách của Trung ương 14.994,30 triệu đồng, bằng 2,01%.
- Hỗ trợ thực hiện bằng các cơ chế, chính sách của đặc thù của thành phố 725.084,85 triệu đồng, bằng 97,99%.
CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP, THỦY SẢN, NÂNG CAO THU NHẬP NÔNG DÂN
GIAI ĐOẠN 2017-2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 202
I. CĂN CỨ PHÁP LÝ
- Luật Đất đai năm 2013;
- Luật Ngân sách nhà nước năm 2015;
- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;
- Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19-12-2013 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn;
- Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg ngày 9-1-2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản;
- Quyết định số 1895/QĐ-TTg ngày 17-12-2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thuộc Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020;
- Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25-10-2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn;
- Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14-11-2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp;
- Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg ngày 4-9-2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015-2020;
- Quyết định số 2261/QĐ-TTg ngày 15-12-2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã giai đoạn 2015-2020;
- Quyết định số 575/QĐ-TTg ngày 4-5-2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể khu và vùng nông nghiệp dụng công nghệ cao đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;
- Quyết định số 66/2015/QĐ-TTg ngày 25-12-2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí thẩm quyền, trình tự, thủ tục công nhận vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao;
- Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐND ngày 29-3-2016 của HĐND thành phố thông qua Đề án nhiệm vụ, giải pháp tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao sức canh tranh, giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;
- Nghị quyết số 151/2016/NQ-HĐND ngày 13-12-2016 của HĐND thành phố về thông qua Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2017-2020.
II. PHƯƠNG HƯỚNG
1. Mục tiêu chung
- Thực hiện thành công tái cơ cấu ngành nông nghiệp, phù hợp với quy hoạch chung phát triển kinh tế - xã hội, gắn với xây dựng nông thôn mới; phát huy lợi thế điều kiện tự nhiên, tiềm năng địa phương; gắn với liên kết vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, vùng đồng bằng sông Hồng và hội nhập quốc tế.
- Phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hình thành khu, vùng nông nghiệp công nghệ cao; chú trọng ưu tiên sản xuất theo GAP (thực hành sản xuất nông nghiệp, thủy sản tốt). Tập trung sản phẩm chủ lực, có lợi thế cạnh tranh; chú trọng chế biến, tiêu thụ, tổ chức sản xuất theo chuỗi liên kết, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, phát triển mạnh hệ thống hộ vệ tinh.
- Tăng cường sự tham gia của các thành phần kinh tế, nhất là tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp có năng lực, kinh nghiệm đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản; liên kết các hộ nông dân sản xuất nông sản hàng hóa tập trung. Khuyến khích nông dân và doanh nghiệp đổi mới giống, quy trình sản xuất, công nghệ, thiết bị để nâng cao hiệu quả, phát triển bền vững.
2. Một số chỉ tiêu cụ thể đến năm 2020
- Tăng trưởng GDP nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2016-2020 bình quân đạt 2,7%/năm. Giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản giai đoạn 2016-2020 tăng bình quân 2,92%/năm; trong đó: nông nghiệp tăng 1,55% (chăn nuôi tăng 2%, trồng trọt tăng 0,45%, dịch vụ tăng 8,85%); thủy sản tăng 6,05% (khai thác tăng 7,15%, nuôi trồng và dịch vụ tăng 5,15%); lâm nghiệp tăng 2,51%.
- Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản đến năm 2020 là 57,75% - 0,25% - 42%; cơ cấu giá trị sản xuất trồng trọt - chăn nuôi - dịch vụ nông nghiệp là 46% - 46,85% - 7,15%; cơ cấu giá trị sản xuất nuôi trồng và dịch vụ - khai thác thủy sản là 59% - 41%.
- Vùng sản xuất hàng hóa sản phẩm chủ lực tập trung theo chuỗi giá trị có gắn nhãn mác, thương hiệu trên 50% tổng diện tích đất nông nghiệp; ứng dụng công nghệ cao tại các khu, vùng trọng điểm; tăng cường năng lực về: tổ chức, trang thiết bị phục vụ sản xuất, cơ sở chế biến, giết mổ tập trung…
- Giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích đất canh tác tăng 1,4 - 1,5 lần so với năm 2015, ước đạt 110 triệu đồng/ha/năm (giá so sánh năm 2010).
- Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn tăng từ 1,5 - 2 lần so với năm 2015, ước đạt trên 50 triệu đồng/người. Giảm tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn xuống dưới 2% (tiêu chí nghèo đa chiều).
- Có 100% số xã và 100% số huyện đạt chuẩn theo Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
(Các chỉ tiêu trên đã được nêu tại các nghị quyết của HĐND thành phố: số 04/2016/NQ-HĐND ngày 29-3-2016 và số 151/2016/NQ-HĐND ngày 13-12-2016).
3. Định hướng đến năm 2025
- Tốc độ tăng trưởng GDP nông, lâm, thủy sản đạt trên 2%/năm; tăng trưởng giá trị sản xuất trên 2,5%/năm.
- Vùng sản xuất hàng hóa sản phẩm chủ lực tập trung theo chuỗi giá trị có gắn nhãn mác, thương hiệu chiếm trên 75% tổng diện tích đất nông nghiệp; mở rộng ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. Trên 90% số sản phẩm sản xuất theo quy trình an toàn (50% đạt tiêu chuẩn chất lượng cao). Trên 75% số sản phẩm được gắn nhãn mác và có hợp đồng tiêu thụ sản phẩm.
- Thu nhập trên đơn vị diện tích tăng gấp 1,3 - 1,5 lần so với năm 2020, ước đạt 150 - 170 triệu đồng/ha (giá so sánh năm 2010). Thu nhập bình quân của người dân sản xuất nông nghiệp đạt 1,5 lần so với năm 2020 (khoảng 75 - 80 triệu đồng/người). Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn dưới 1%.
- Có 100% số xã và 100% số huyện đạt tiêu chí nông thôn tiến tiến, tiếp tục nâng cao chất lượng tiêu chí, đáp ứng yêu cầu giai đoạn mới.
III. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU, ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN
1. Mục đích: Tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách khuyến khích nông nghiệp, nông thôn của Nhà nước; đề xuất cơ chế, chính sách thiết thực, phù hợp điều kiện thực tế của thành phố, huy động tốt các nguồn lực trong xã hội, đẩy nhanh cơ cấu lại ngành nông nghiệp, nâng cao đời sống người nông dân.
2. Yêu cầu
2.1. Bảo đảm áp dụng các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn của Chính phủ ban hành phù hợp tình hình thực tiễn của Hải Phòng.
2.2. Đề xuất và được HĐND thành phố thông qua, ban hành một số cơ chế, chính sách có tính khả thi cao, hướng vào phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy sản hàng hóa tập trung, an toàn thực phẩm, có nhãn hiệu hàng hóa, gắn kết từ sản xuất đến tiêu thụ; bảo đảm môi trường bền vững.
2.3. Việc thực hiện các cơ chế, chính sách phải công khai, minh bạch, bảo đảm ổn định an ninh xã hội nông thôn, nâng cao đời sống người nông dân.
3. Đối tượng thụ hưởng chính sách: Doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, thủy sản.
4. Nguồn lực thực hiện: Ngân sách nhà nước mang tính định hướng, dẫn dắt, thu hút các nguồn lực của xã hội đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.
5. Thời hạn thực hiện: Giai đoạn 2017-2020, có đánh giá, tổng kết, đề xuất tiếp tục thực hiện giai đoạn 2021-2025.
6. Nguyên tắc hỗ trợ: Trong trường hợp cùng thời gian, nội dung có nhiều chính sách hỗ trợ thì tổ chức, cá nhân thụ hưởng chính sách được lựa chọn áp dụng chính sách hỗ trợ có lợi nhất.
IV. NỘI DUNG CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH
1. Phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
1.1. Hỗ trợ thực hiện dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có quy mô lớn (chính sách 1)
(1) Lý do đề xuất:
- Sản xuất nông nghiệp những năm gần đây có tốc độ tăng trưởng chậm, đất sản xuất manh mún, phát triển ngành dựa trên kinh tế hộ là chủ yếu, năng suất và chất lượng nông sản chưa cao.
- Số doanh nghiệp đầu tư và lượng đầu tư vào sản xuất nông nghiệp thấp, đặc biệt là nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; khó khăn trong việc tập trung diện tích đất đủ lớn để sản xuất quy mô lớn, công nghệ cao, gây cản trở hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
- Các chính sách thu hút đầu tư cho nông nghiệp còn hạn chế, đặc biệt là chính sách về đất đai, tín dụng và hỗ trợ đầu tư nông nghiệp công nghệ cao. Theo Điều 62 của Luật Đất đai số 45/2014/QH13, việc thu hồi đất để thực hiện dự án nông nghiệp không thuộc trường hợp Nhà nước phải thu hồi đất.
- Hiện nay, có một số diện tích đất sản xuất các hộ không còn nhu cầu sản xuất nông nghiệp hoặc sản xuất không thường xuyên, cho thuê ruộng ngắn hạn và không chính thức; theo Điều 64 của Luật Đất đai “đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục” sẽ được thu hồi.
Vì vậy để tập trung diện tích, dành quỹ đất sẵn sàng cho doanh nghiệp thuê thực hiện Dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đồng thời sử dụng hiệu quả quỹ đất nông nghiệp; bảo đảm quyền lợi tốt nhất của người dân có ruộng; thành phố ứng ngân sách hỗ trợ thu hồi đất của hộ nông dân có nhu cầu, tự nguyện giao lại cho Nhà nước.
(2) Cơ sở đề xuất:
a) Cơ sở pháp lý:
- Theo Khoản 5, Điều 33, Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12 “UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân đầu tư vào khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao”.
- Mục IV, Quyết định số 2457/QĐ-TTg ngày 31-12-2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020: “UBND tỉnh, thành phố tạo điều kiện thuận lợi về bố trí sử dụng đất, thực hiện các cơ chế chính sách ưu đãi cho việc triển khai các nhiệm vụ của Chương trình”.
- Mục V, Quyết định số 575/QĐ-TTg ngày 4-5-2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao: “UBND tỉnh, thành phố… chủ động xây dựng, khuyến khích doanh nghiệp, các khu và vùng ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương; … i. Căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương, quy định các chính sách ưu đãi khác đối với khu, vùng nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn”.
- Các văn bản quy định về điều kiện khác: Quyết định số 66/2015/QĐ-TTg (tiêu chí xác định vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao); Nghị định số 210/2013/NĐ-CP (nhà đầu tư phải sử dụng tối thiểu 30% lao động tại địa phương); Luật Đất đai số 45/2013/QH13 (thời hạn giao đất, cho thuê đất)…
b) Cơ sở thực tiễn:
- Hiện nay trên địa bàn thành phố đã có doanh nghiệp đầu tư ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, như: Công ty cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam, Công ty cổ phần Tập đoàn Dabaco Việt Nam, Công ty Đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp VinEco…
- Cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn của các tỉnh, thành phố: Quảng Ninh, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh… hướng tập trung thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, hỗ trợ đầu tư cho sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chính sách ứng ngân sách thuê đất của hộ nông dân để cho doanh nghiệp thuê lại, tổ chức sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hỗ trợ kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào dự án, chuyển giao công nghệ…
(3) Đối tượng thụ hưởng chính sách: Doanh nghiệp đầu tư dự án sản xuất nông nghiệp, thủy sản ứng dụng công nghệ cao.
(4) Điều kiện để được thụ hưởng chính sách:
- Dự án phù hợp với quy hoạch khu, vùng nông nghiệp công nghệ cao; được UBND thành phố phê duyệt.
- Sản xuất rau hoặc thủy sản từ 100 ha trở lên; trồng hoa từ 50 ha trở lên.
- Sử dụng trên 30% lao động tại địa phương (ưu tiên sử dụng lao động tại các hộ gia đình tại khu vực có đất nông nghiệp thu hồi).
- Sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, quốc gia (GlobalGAP, HACCP, VietGAP, VietGAHP…), có liên kết tiêu thụ sản phẩm.
- Thời hạn tổ chức sản xuất của dự án từ 20 năm trở lên.
(5) Cơ chế: thành phố ngân sách hỗ trợ thu hồi đất của hộ nông dân có nhu cầu, tự nguyện giao lại cho Nhà nước.
(6) Chính sách:
- Ngân sách thành phố hỗ trợ 100% kinh phí tổ chức thực hiện dồn điền, đổi thửa để khuyến khích tích tụ ruộng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, mức hỗ trợ tối đa không quá 6,18 triệu đồng/ha.
- Ngân sách thành phố chi đền bù, giải phóng mặt bằng thực hiện dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy hoạch được duyệt sau khi trừ đi tiền thuê đất của dự án.
(7) Quy mô thực hiện: Tổng diện tích 850 ha, giai đoạn 2017-2020 là 390 ha (rau 250 ha, nuôi thủy sản 140 ha), thực hiện sau năm 2020 là 460 ha.
(8) Định mức chi tiết cho từng nội dung hỗ trợ [Phụ biểu chính sách 1]
(9) Dự kiến nguồn lực thực hiện đoạn 2017-2020 là 3.582.610 triệu đồng, trong đó:
- Ngân sách thành phố hỗ trợ tổ chức thực hiện dồn điền, đổi thửa: 2.410 triệu đồng (bằng 0,07%).
- Ngân sách thành phố chi đền bù, giải phóng mặt bằng [13]: 850.200 triệu đồng (bằng 23,73%).
- Thu hút đầu tư của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân là 2.730.000 triệu đồng (bằng 76,20%).
1.2. Hỗ trợ thực hiện dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có quy mô vừa (chính sách 2)
(1) Lý do đề xuất:
- Diện tích đất sản xuất manh mún; một số diện tích đất các hộ không sản xuất có nhu cầu cho thuê nằm riêng lẻ.
- Các tổ chức, cá nhân gặp khó khăn trong việc thuê đất nông nghiệp để sản xuất quy mô lớn, đầu tư công nghệ cao do quy định giới hạn về số lượng diện tích đất; khó khăn trong thương lượng thuê đất của nhiều các hộ nông dân và các thửa đất có thể thuê không tập trung.
- Khi thực hiện chính sách hỗ trợ: việc thực hiện thuê và cho thuê đất với sự quản lý của nhà nước bảo đảm hiệu quả công tác quản lý đất nông nghiệp; người dân yên tâm hơn khi cho thuê đất lâu dài và bảo lưu quyền sở hữu quyền sử dụng đất nông nghiệp và doanh nghiệp được tạo điều kiện thuận lợi trong thuê đất đầu tư vào nông nghiệp; doanh nghiệp không phải làm việc trực tiếp với quá nhiều hộ nông dân dân trong việc thỏa thuận diện tích và giá thuê đất nên rút ngắn thời gian thực hiện hoạt động chuẩn bị đầu tư.
(2) Cơ sở đề xuất:
a) Cơ sở pháp lý:
- Các văn bản cơ sở về việc xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp, các khu và vùng ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương như đã trình bày tại Chính sách 1.
- Điều 7, Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19-12-2013 của Chính phủ: khuyến khích tích tụ đất hình thành vùng nguyên liệu thông qua hình thức hộ gia đình, cá nhân góp vốn bằng quyền sử dụng đất đối với các dự án không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất.
- Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐND ngày 29-3-2016 của HĐND thành phố nêu: “thành phố có cơ chế hỗ trợ tạo điều kiện để các doanh nghiệp thuê lại đất của nông dân thực hiện đầu tư sản xuất và tiêu thụ nông sản hoặc doanh nghiệp cùng nông dân tổ chức sản xuất theo mô hình cánh đồng mẫu lớn”.
b) Cơ sở thực tiễn:
- Toàn thành phố hiện có khoảng 108 tổ chức, cá nhân tham gia tích tụ ruộng đất với tổng diện tích hơn 1.150 ha, chiếm 2,31% diện tích đất nông nghiệp. Việc tích tụ ruộng đất thực hiện bằng nhiều hình thức như thuê đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, góp đất, mượn đất…
- Thành phố chưa có chính sách hỗ trợ cụ thể cho việc tích tụ ruộng đất, góp đất, thuê đất sản xuất.
- Thực tế hiện nay người dân đang thuê đất lúa để sản xuất nông nghiệp với mức: tại huyện Vĩnh Bảo 60 - 80 kg thóc/sào/năm (đất lúa trũng); 100 - 120 kg thóc/sào/năm (đất vàn trung bình, cao); tại huyện An Dương 150 - 180 kg thóc/sào/năm; tại huyện Thủy Nguyên và các huyện khác 120 - 150 kg thóc/sào/năm; giá theo giá thực tế 60 - 70.000 đồng/kg thóc…
- Thực tế hạch toán kinh tế nếu thuê đất sản xuất canh tác thông thường, ở mức 150 kg/sào/năm, người sản xuất mới bắt đầu có lãi thuần khoảng 8 triệu đồng/ha/năm.
- Tỉnh Hà Nam đã thực hiện cơ chế chính quyền đứng ra thuê đất và chính sách ứng chi ngân sách trả tiền thuê quyền sử dụng của các hộ trong 20 năm trên diện tích 400 ha đất nông nghiệp.
(3) Đối tượng thụ hưởng chính sách: Doanh nghiệp thuê, gom đất, mặt nước tổ chức sản xuất nông nghiệp, thủy sản ứng dụng công nghệ cao.
(4) Điều kiện để được thụ hưởng chính sách:
- Dự án hoặc phương án sản xuất phù hợp với quy hoạch khu, vùng nông nghiệp công nghệ cao; được UBND cấp huyện phê duyệt.
- Sản xuất lúa hoặc thủy sản diện tích tối thiểu 10 ha, sản xuất rau, hoa, cây cảnh, sản xuất chăn nuôi tối thiểu 2 ha liền vùng.
- Chứng nhận sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn ngành, có nhãn hàng hóa được chứng nhận theo quy định; sản xuất theo phương thức ứng dụng công nghệ cao.
- Thời hạn tổ chức sản xuất từ 20 năm trở lên.
(5) Cơ chế: nông dân nhất trí để Nhà nước đại diện (UBND xã, UBND huyện thực hiện dồn điền đổi thửa, sẵn sàng quỹ đất; Sở Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch) ký hợp đồng cho doanh nghiệp thuê đất.
(6) Chính sách:
- Ngân sách thành phố hỗ trợ 100% kinh phí tổ chức thực hiện dồn điền, đổi thửa để khuyến khích tích tụ ruộng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, mức hỗ trợ tối đa không quá 6,18 triệu đồng/ha.
- Ứng kinh phí ngân sách thành phố thanh toán một lần cho hộ nông dân với mức không quá 150 kg thóc/sào/năm, theo giá của Nhà nước (tại thời điểm ký hợp đồng giữa Nhà nước và nông dân), trong thời gian 20 năm. Sau đó Nhà nước cho doanh nghiệp thuê lại diện tích đất này, để doanh nghiệp đầu tư phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và thu tiên thuê đất của doanh nghiệp đúng bằng kinh phí đã chi trả tiền thuê đất của hộ dân (tại thời điểm ký hợp đồng thuê đất giữa Nhà nước và doanh nghiệp), thanh toán 10 năm/1 lần.
(7) Quy mô thực hiện: tổng diện tích 1.940 ha, giai đoạn 2017-2020 là 810 ha (rau, lúa 240 ha; hoa, cây cảnh 55 ha; nuôi trồng thủy sản 320 ha; chăn nuôi 195 ha), thực hiện sau năm 2020 là 1.130 ha.
(8) Định mức chi tiết cho từng nội dung hỗ trợ [Phụ biểu chính sách 2]
(9) Dự kiến nguồn lực thực hiện giai đoạn 2017-2020 là 2.775.206 triệu đồng, trong đó:
- Ngân sách thành phố hỗ trợ tổ chức thực hiện dồn điền, đổi thửa: 5.006 triệu đồng (bằng 0,18%).
- Ngân sách thành phố ứng kinh phí thuê đất trả trước cho hộ nông dân 340.200 triệu đồng (bằng 12,26%).
- Thu hút đầu tư của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân là 2.430.000 triệu đồng (bằng 87,56%).
1.3. Hỗ trợ hộ nông dân tham gia liên kết chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (chính sách 3)
(1) Lý do đề xuất:
- Sản lượng nông sản được cung cấp bởi doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao còn hạn chế.
- Khối lượng lớn sản phẩm nông nghiệp của các tổ chức, cá nhân ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao tham gia vào các chuỗi cung ứng nhỏ, rời rạc với giá trị chưa tương xứng; không xây dựng được mối liên kết vùng, chưa tạo ra sản lượng lớn.
- Trên cơ sở liên kết ngang, các hộ nông dân cùng tổ chức sản xuất, có sự hợp tác của doanh nghiệp với các liên kết dọc về cung ứng, quản trị chuỗi, quản lý thương hiệu sản phẩm tạo sự đồng nhất từ sản xuất đến phân phối và quản lý chất lượng.
- Khi tham gia vào chuỗi cung ứng sản phẩm với những yêu cầu khắt khe về chất lượng, bảo đảm ổn định sản lượng, việc đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị, máy móc và nâng cao năng lực tổ chức sản xuất của hộ nông dân là cần thiết nhưng mức đầu là lớn so với khả năng của hộ sản xuất.
(2) Cơ sở đề xuất:
a) Cơ sở pháp lý:
- Nghị quyết số 151/2016/HĐND ngày 13-12-2016 của HĐND thành phố: Hỗ trợ sản xuất kết nối tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao cho các hoạt động xây dựng nhà lưới, vòm che, nhà bạt, hệ thống làm mát…
- Theo mục III, Quyết định số 1895/QĐ-TTg ngày 17-12-2012 Thủ tướng Chính phủ xác định việc hưởng mức ưu đãi, hỗ trợ cao nhất theo quy định và các quy định pháp luật có liên quan là một giải pháp về cơ chế, chính sách để hỗ trợ tổ chức, cá nhân ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp và đối với vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, UBND các tỉnh, thành phố quy định theo thẩm quyền các chính sách hỗ trợ ưu đãi khác.
- Thông tư liên tịch số 183/2010/TTLT-BTC-BNN ngày 15-11-2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài chính quy định mức hỗ trợ chi phí mua công cụ, máy cơ khí, thiết bị tối đa 50% và tối đa 30% (không quá 200 triệu đồng) đối với mô hình công nghệ cao.
b) Cơ sở thực tiễn:
- Hiện nay các mô hình liên kết nhóm hộ, liên kết hộ vệ tinh với các doanh nghiệp đã thực hiện đạt hiệu quả ở một số tỉnh và Hải Phòng: liên kết trong sản xuất rau sạch của VinEco, chăn nuôi gia công CP…
- Hải Phòng hiện có 18 tổ chức, cá nhân (với trên 56.000 m2) đầu tư hệ thống nhà lưới, nhà bạt có quy mô tương đối lớn trên với chi phí lắp đặt trên 1 tỷ đồng/ha; trong dự báo nhu cầu kế hoạch, quy hoạch phát triển nông nghiệp công nghệ cao sẽ mở rộng diện tích lên trên 3.000 ha đối với quy mô sản xuất cấp nông hộ.
(3) Đối tượng thụ hưởng chính sách: nông dân, ngư dân.
(4) Điều kiện để được thụ hưởng chính sách:
- Phương án sản xuất có đầu tư nhà lưới, màng phủ, hệ thống tưới tự động, vòm che đối với trồng trọt; nhà bạt, quạt nước đối với nuôi thủy sản trong vùng sản xuất được chứng nhận an toàn; được UBND cấp huyện phê duyệt.
- Có hợp đồng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp nông nghiệp, thủy sản ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn thành phố. Sản phẩm gắn nhãn mác hoặc liên kết để có nhãn mác hàng hóa, truy xuất được nguồn gốc.
- Nhà lưới trồng trọt, nhà bạt nuôi thủy sản phải được cấu tạo bằng kết cấu khung thép, bao chung quanh bằng các loại lưới, bạt phủ; chế tạo theo thiết kế mẫu được thành phố phê duyệt.
- Màng phủ, hệ thống tưới, vòm che, thiết bị quạt nước được thống nhất chủng loại, kích thước, chất lượng theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn.
(5) Cơ chế, chính sách:
- Hỗ trợ 1 lần 50% kinh phí xây dựng nhà lưới, nhà bạt và không quá 1.000 triệu đồng/ha.
- Hỗ trợ 1 lần 50% kinh phí làm vòm che, màng phủ, hệ thống tưới nước tự động, quạt nước, sục khí và không quá 200 triệu đồng/ha.
(6) Quy mô thực hiện: tổng diện tích 3.080 ha; giai đoạn 2017-2020 là 1.245 ha; trong đó: nhà lưới, nhà bạt 120 ha (rau 40 ha, hoa 20 ha, nuôi thủy sản 60 ha); màng phủ, hệ thống tưới nước, vòm che, quạt nước 1.125 ha (rau 520 ha, hoa 125 ha, thủy sản 480 ha); thực hiện sau năm 2020 là 1.835 ha.
(7) Định mức chi tiết cho từng nội dung hỗ trợ:
- Hỗ trợ 50% kinh phí và không quá 1.000 triệu đồng/ha xây dựng nhà lưới, nhà bạt: thực tế, chi phí thấp nhất cho xây dựng, lắp đặt nhà lưới nhà bạt đơn giản khoảng 1.100 triệu đồng/ha; nhà lưới thường khoảng 2.700 triệu đồng/ha; nhà lưới trồng dưa 3.000 triệu đồng/ha; nhà lưới, nhà kính công nghệ Israel 15.000 triệu đồng/ha.
- Hỗ trợ 50% kinh phí và không quá 200 triệu đồng/ha làm vòm che, màng phủ, hệ thống tưới nước tự động, quạt nước, sục khí; trên thực tế hệ thống tưới tự động đơn giản nhất là 100 triệu đồng/ha (chưa bao gồm hạ tầng cấp nước); 400 triệu đồng/ha đối với hệ thống tưới áp dụng cảm biến; khung làm vòm che thấp 267 triệu đồng/ha; hệ thống quạt nước, sục khí ao nuôi khoảng 400 triệu đồng/ha.
(8) Dự kiến nguồn lực thực hiện giai đoạn 2017-2020 là 1.950.000 triệu đồng, trong đó:
- Ngân sách thành phố hỗ trợ 345.206 triệu đồng (bằng 17,69%).
- Thu hút đầu tư của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân 1.605.000 triệu đồng (bằng 82,31%).
2. Phát triển sản xuất, tiêu thụ sản phẩm an toàn thực phẩm
2.1. Hỗ trợ chứng nhận vùng sản xuất nông sản an toàn thực hành sản xuất nông nghiệp tốt - GAP (chính sách 4)
(1) Lý do đề xuất:
- Phần lớn nông sản chưa vào được các thị trường lớn, thị trường ổn định, do chưa tạo dựng được uy tín từ việc chưa truy xuất được nguồn gốc và sản phẩm không có chứng nhận vùng sản xuất nông sản an toàn hoặc sản phẩm sản xuất theo quy trình GAP - là một trong những bằng chứng pháp lý cho chất lượng nông sản tiêu thụ trong nước.
- Chi phí để chứng nhận vùng sản xuất nông sản an toàn và sản phẩm sản xuất theo quy trình GAP còn khá cao, trong khi giá trị sản phẩm khi tiêu thụ chưa tăng tương xứng nên không khuyến khích được người sản xuất chủ động tổ chức chứng nhận sản phẩm.
- Hiệu lực của Giấy chứng nhận vùng sản xuất an toàn theo GAP tối đa 2 năm kể từ ngày cấp, được gia hạn tối đa 3 tháng nên việc hỗ trợ cấp chứng nhận là cần thiết.
- Hỗ trợ chứng nhận GAP sẽ khuyến khích việc tổ chức sản xuất theo quy trình; từng bước thay đổi tư duy, nhận thức của người sản xuất, người tiêu dùng về chất lượng, an toàn của sản phẩm nông sản.
- Việc hỗ trợ 1.720 ha trồng trọt, 1.550 ha nuôi thủy sản sẽ cung cấp trên 45 nghìn tấn nông sản an toàn, ước tính tăng giá trị sản phẩm lên khoảng 64 tỷ đồng nhờ đáp ứng yêu cầu chất lượng để tham gia vào thị trường tiêu thụ ổn định.
(2) Cơ sở đề xuất:
a) Cơ sở pháp lý: Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg ngày 9-1-2012 của Thủ tướng Chính phủ, quy định: ngân sách nhà nước đầu tư 100% kinh phí về điều tra cơ bản, khảo sát địa hình, phân tích mẫu đất, mẫu nước, mẫu không khí để xác định các vùng sản xuất tập trung thực hiện các dự án sản xuất nông lâm thủy sản áp dụng VietGAP; hỗ trợ một lần kinh phí thuê tổ chức chứng nhận đánh giá để được cấp Giấy chứng nhận sản phẩm an toàn.
b) Cơ sở thực tiễn:
- Xu thế chứng nhận GAP đang ngày càng phổ biến và là nhu cầu tất yếu xuất phát từ nhu cầu thị trường và quản lý sản xuất. Hiện tại tiêu chuẩn VietGAP đang được khuyến khích áp dụng, sau này sẽ tiến tới bắt buộc để góp phần khẳng định và nâng giá trị sản phẩm.
- Với 3.270 ha tham gia sản xuất với mô hình liên kết hộ vệ tinh thông qua hợp đồng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp nông nghiệp, thủy sản ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn thành phố cần phải được chứng nhận đạt tiêu chuẩn GAP để khẳng định giá trị, chất lượng.
(3) Đối tượng thụ hưởng chính sách: Tổ chức, cá nhân sản xuất trồng trọt, nuôi trồng thủy sản.
(4) Điều kiện để được thụ hưởng chính sách: Vùng sản xuất tập trung, vùng liên kết sản xuất hàng hóa thực hiện theo GAP (hoa, cây cảnh 5 ha trở lên, liền vùng; trồng rau màu 10 ha trở lên, liền vùng; nuôi thủy sản hoặc trồng lúa 30 ha trở lên, liền vùng).
(5) Cơ chế, chính sách: Hỗ trợ 100% kinh phí chứng nhận vùng sản xuất nông sản an toàn và sản phẩm sản xuất theo quy trình GAP, không quá 21 triệu đồng/ha đối với trồng trọt và không quá 35 triệu đồng/ha đối với nuôi thủy sản.
(6) Quy mô thực hiện: 1.245 ha (rau 560 ha, hoa 145 ha, thủy sản 540 ha).
(7) Định mức chi tiết cho từng nội dung hỗ trợ:
Thực tế mức chứng nhận vùng sản xuất nông sản an toàn và sản phẩm sản xuất theo quy trình GAP là 21 triệu đồng đối với rau màu, 35 triệu đồng đối với nuôi trồng thủy sản. [Phụ biểu chính sách 4]
(8) Dự kiến nguồn lực thực hiện giai đoạn 2017-2020 là 33.705 triệu đồng từ nguồn ngân sách thành phố hỗ trợ.
2.2. Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất nông nghiệp (chính sách 5)
(1) Cơ sở đề xuất:
- Quyết định số 11/2006/QĐ-TTg ngày 12-1-2006 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020 xác định: “Ứng dụng mạnh mẽ và có hiệu quả các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới để sản xuất”, “Khuyến khích chuyển giao, tiếp nhận và nhập khẩu các công nghệ mới, có hiệu quả kinh tế”…
- Quyết định số 1747/QĐ-TTg ngày 13-10-2015 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2025 quy định nội dung hỗ trợ: “Ứng dụng, chuyển giao các tiến bộ khoa học và công nghệ thông qua các mô hình” như: tiến bộ khoa học và công nghệ về giống mới, công nghệ sản xuất tiên tiến, thiết bị đồng bộ trong thu hoạch, bảo quản; công nghệ sinh học trong sản xuất các chế phẩm sinh học; công nghệ tưới, tiêu; quy trình, thiết bị máy móc trong sản xuất nông nghiệp; xây dựng mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị, liên kết giữa người dân và doanh nghiệp trong việc ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ…
- Thông tư số 348/2016/TT-BTC ngày 30-12-2016 của Bộ Tài chính quy định: Ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 70% chi phí cho các nội dung mua sắm vật tư, nguyên, nhiên vật liệu thực hiện dự án; chi mua máy móc, thiết bị phục vụ trực tiếp và có tính quyết định đến công nghệ chuyển giao của dự án.
- Thông tư liên tịch số 183/2010/TTLT-BTC-BNN ngày 15-11-2010 của Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định: mức hỗ trợ mô hình tiến bộ kỹ thuật mới được hỗ trợ 100% chi phí mua giống và 30% chi phí mua vật tư thiết yếu; 50% cho mô hình cơ giới hóa, 200 triệu đồng mô hình ứng dụng công nghệ cao, hỗ trợ kinh phí triển khai mô hình…
(3) Đối tượng thụ hưởng chính sách: Tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm nông nghiệp, thủy sản chủ lực.
(4) Điều kiện để được thụ hưởng chính sách: Tổ chức sản xuất trong vùng sản xuất tập trung, vùng liên kết sản xuất hàng hóa thực hiện theo GAP; sản xuất sản phẩm nằm trong danh mục sản phẩm chủ lực của thành phố.
(5) Cơ chế, chính sách:
a) Mô hình trình diễn giống mới, giống tiến bộ kỹ thuật:
- Hỗ trợ 1 lần cho 1 mô hình trình diễn giống mới, giống tiến bộ kỹ thuật (lần đầu áp dụng tại Hải Phòng) bao gồm kinh phí giống, vật tư, tập huấn, hội thảo, tuyên truyền… với mức không quá 300 triệu đồng/mô hình.
- Quy mô thực hiện: 30 mô hình.
- Chi tiết nội dung và tỷ lệ hỗ trợ:
+ 100% chi phí giống mới, giống tiến bộ kỹ thuật, chi phí công tác chỉ đạo, hội thảo, tuyên truyền, tập huấn và nhân rộng cho 1 mô hình;
+ 30% chi phí vật tư thiết yếu (thuốc, thức ăn, phân bón, hóa chất…) cho 1 mô hình.
- Dự kiến nguồn lực thực hiện giai đoạn 2017-2020 là 15.000 triệu đồng, trong đó:
+ Ngân sách thành phố hỗ trợ 9.000 triệu đồng (bằng 60%).
+ Thu hút đầu tư của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân là 6.000 triệu đồng (bằng 40%).
b) Mô hình ứng dụng công nghệ sinh học:
- Hỗ trợ 1 lần cho 1 mô hình ứng dụng công nghệ sinh học, bao gồm chi phí về quy trình, giống, vật tư, chế phẩm sinh học, huấn luyện kỹ năng chuyên sâu, hội thảo, tuyên truyền… với mức không quá 500 triệu đồng/mô hình.
- Quy mô thực hiện: 30 mô hình.
- Chi tiết nội dung, tỷ lệ hỗ trợ:
+ 100% chi phí giống cây trồng, con vật nuôi; quy trình, huấn luyện kỹ năng chuyên sâu; công tác chỉ đạo, hội thảo, tuyên truyền, nhân rộng cho 1 mô hình;
+ 50% chi phí vật tư, chế phẩm sinh học; trang thiết bị, dụng cụ sản xuất cho 1 mô hình.
- Dự kiến nguồn lực thực hiện giai đoạn 2017-2020 là 22.500 triệu đồng, trong đó:
+ Ngân sách thành phố hỗ trợ 15.000 triệu đồng (bằng 70%).
+ Thu hút đầu tư của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân là 7.500 triệu đồng (bằng 30%).
2.3. Hỗ trợ “mỗi làng một sản phẩm” (chính sách 6)
(1) Lý do đề xuất:
- Phát triển hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh các sản phẩm truyền thống, sản phẩm có thế mạnh ở khu vực nông thôn nhằm đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp và nền kinh tế ở nông thôn theo hướng tăng giá trị sản phẩm.
- Thực hiện có hiệu quả nhóm tiêu chí “Kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất” trong Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
- Thông qua việc phát triển sản xuất là góp phần tăng thu nhập bền vững cho người dân, giữ gìn ổn định xã hội khu vực nông thôn.
(2) Cơ sở đề xuất:
Cơ sở thực tiễn:
- Phong trào “mỗi làng một sản phẩm” đã đạt được những thành công lớn và lan tỏa ra rất nhiều nước, vùng lãnh thổ trên toàn thế giới trong phát triển nông thôn. Tại Việt Nam, được thực hiện tại một số tỉnh, thành phố như Quảng Ninh, Hà Nội, Lâm Đồng… UBND tỉnh Quảng Ninh có Quyết định số 3479 /QĐ-UBND ngày 5-11-2015 ban hành Bộ tiêu chí đánh giá và phân hạng sản phẩm chương trình tỉnh Quảng Ninh “Mỗi xã, phường một sản phẩm” [14].
- Đây là mô hình phù hợp: Phù hợp bởi tính chất, quy mô nhỏ của nông thôn; giúp khai thác hiệu quả truyền thống sản xuất, sinh thái và văn hóa tạo sự đa dạng cho sản phẩm đặc hữu; là môi trường rất tốt để thúc đẩy đưa khoa học công nghệ vào sản xuất, gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ theo yêu cầu của thị trường; tạo động lực thúc đẩy sự sáng tạo của người dân để tạo ra các sản phẩm đặc sản là niềm tự hào của quê hương; thúc đẩy liên kết phát triển sản phẩm.
(3) Đối tượng thụ hưởng chính sách: Tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm đặc thù, sản phẩm có thế mạnh của địa phương.
(4) Điều kiện để được thụ hưởng chính sách:
- Sản phẩm được cấp có thẩm quyền đánh giá và phân hạng, cấp chứng nhận đạt chuẩn tham gia Chương trình hỗ trợ; sản phẩm phục vụ du lịch.
- Tổ chức sản xuất tại các khu vực đã được quy hoạch; ưu tiên khu vực trong tuyến du lịch được quy hoạch.
- Có phương án sản xuất được UBND cấp huyện phê duyệt.
(5) Cơ chế, chính sách: hỗ trợ một lần cho 1 làng 50% kinh phí và không quá 1.000 triệu đồng để đổi mới công nghệ, trang thiết bị, gắn nhãn mác, xúc tiến tiêu thụ sản phẩm.
(6) Quy mô thực hiện: 100 làng.
(7) Dự kiến nguồn lực đầu tư giai đoạn 2017-2020 là 200.000 triệu đồng, trong đó:
- Ngân sách thành phố hỗ trợ 100.000 triệu đồng (bằng 50%).
- Thu hút đầu tư của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân là 100.000 triệu đồng (bằng 50%).
3. Hỗ trợ lãi suất vốn vay phát triển trang trại chăn nuôi (chính sách 7)
(1) Lý do đề xuất:
- Hiện nay, thành phố chưa có chính sách hỗ trợ lãi suất để xây dựng trang trại chăn nuôi, với mức vốn đầu tư xây dựng từ 1 - 2 tỷ đồng/trang trại; trong khi việc hỗ trợ 100% lãi suất vốn vay cho mua các loại máy, thiết bị ở 2 năm đầu, 50% trong năm thứ ba là chưa đủ thời gian để các hộ ổn định sản xuất.
- Việc hỗ trợ lãi suất giúp chia sẻ giảm bớt khó khăn trong đầu tư phát triển trang trại; các chủ trang trại mạnh dạn đầu tư, đẩy mạnh sản xuất; đồng thời doanh số cho vay tăng góp phần kích cầu phát triển kinh tế nói chung.
- Giúp bảo đảm mục tiêu năm 2020 sẽ có trên 800 trang trại đạt tiêu chí theo quy định, hoạt động hiệu quả, trên 30% số trang trại áp dụng công nghệ mới vào sản xuất sẽ đóng góp vào giá trị sản xuất chăn nuôi trên 1.200 tỷ đồng, cung cấp 37.700 tấn thịt lợn, gia cầm an toàn thực phẩm trong năm 2020; ước cung cấp 128 nghìn tấn thịt cho thị trường và đóng góp 4.490 tỷ đồng trong giá trị sản xuất ngành nông nghiệp giai đoạn 2017-2020.
(2) Cơ sở đề xuất:
a) Cơ sở pháp lý:
- Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 9-6-2015 của Chính phủ quy định về cơ chế bảo đảm tiền và không có tài sản bảo đảm chủ trang trại sẽ được vay với mức tối đa 1 tỷ đồng.
- Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14-11-2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định việc Ngân sách nhà nước hỗ trợ lãi suất vốn vay thương mại với mức hỗ trợ 100% lãi suất vốn vay trong 2 năm đầu, 50% trong năm thứ ba.
b) Cơ sở thực tiễn:
- Giai đoạn 2011-2015, thực hiện Quyết định số 1076/QĐ-UBND ngày 18-7-2011 của UBND thành phố hỗ trợ 100% lãi suất vốn vay đối với 20% tổng mức vốn đầu tư trang trại trong thời gian 36 tháng, tính từ thời điểm giải ngân đã hỗ trợ 469 trang trại chăn nuôi; với tổng số vốn 50.795 triệu đồng; đạt 41,32% kế hoạch giai đoạn 2011-2015.
- Kế hoạch phát triển trang trại cần phát triển trong giai đoạn 2016-2020: tăng 128 trang trại lợn so năm 2016 (quy mô trung bình 450 con/trang trại); tăng 106 trang trại gia cầm so năm 2016 (quy mô 4.000 con/trang trại).
- Trên cơ sở trang trại chăn nuôi có khả năng tiếp cận vốn vay chiếm khoảng (45% đến 60% số trang trại xây dựng). Đề xuất hỗ trợ xây dựng mới, mở rộng quy mô trang trại chăn nuôi: 150 trang trại.
(3) Đối tượng thụ hưởng chính sách: Cá nhân xây dựng mới, mở rộng quy mô trang trại chăn nuôi.
(4) Điều kiện để được thụ hưởng chính sách:
- Trang trại quy mô: nuôi lợn nái từ 50 con trở lên, nuôi lợn thịt từ 100 con trở lên, nuôi gia cầm từ 2.000 con trở lên.
- Trang trại nằm trong quy hoạch phát triển chăn nuôi của địa phương, áp dụng quy trình GAP, bảo đảm vệ sinh môi trường, có dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
(5) Cơ chế, chính sách: Hỗ trợ 100% lãi suất vốn vay ngân hàng thương mại để xây dựng trang trại chăn nuôi, thời hạn vay 3 năm (36 tháng), mức vay được hỗ trợ lãi suất bằng 50% tổng vốn đầu tư xây dựng trang trại và không quá 500 triệu đồng/trang trại.
(6) Quy mô thực hiện: 150 trang trại.
(7) Định mức chi tiết cho nội dung hỗ trợ:
Hỗ trợ 100% lãi suất vốn vay; thời hạn vay 3 năm (36 tháng), mức vay được hỗ trợ lãi suất bằng 50% tổng vốn đầu tư xây dựng trang trại và không quá 500 triệu đồng/trang trại.
Theo thực tế, khoảng mức đầu tư xây dựng trang trại nuôi lợn thịt quy mô 300 con là 1.310 triệu đồng/trang trại, gà đẻ, gà thịt trên 5.000 con là 1.100 triệu đồng/trang trại, mức vốn vay được hỗ trợ lãi suất là không quá 500 triệu đồng/trang trại. Với khoảng mức đầu tư 500 - 600 triệu đồng/trang trại (lợn thịt 100 con, nái 50 con, trang trại gà 2.000 con), hỗ trợ lãi suất bằng 50% tổng vốn đầu tư xây dựng.
(8) Dự kiến nguồn lực đầu tư giai đoạn 2017-2020 là 172.500 triệu đồng, trong đó:
- Ngân sách thành phố hỗ trợ 22.500 triệu đồng (bằng 13,04 %).
- Thu hút đầu tư của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân là 150.000 triệu đồng (bằng 86,96%).
4. Hỗ trợ làm công trình xử lý chất thải cho trang trại, khu sản xuất nông nghiệp tập trung(chính sách 8)
(1) Lý do đề xuất:
- Xử lý chất thải cho trang trại, khu sản xuất nông nghiệp tập trung đang là một khó khăn, thách thức đối với phát triển sản xuất gắn bảo vệ môi trường.
- Chính sách hỗ trợ xây dựng công trình xử lý chất thải hiện nay chỉ áp dụng đối với vùng sản xuất tập trung để phù hợp với yêu cầu kỹ thuật VietGAP hoặc chăn nuôi nông hộ quy mô nhỏ.
- Việc hỗ trợ làm công trình xử lý chất thải là động lực tích cực hỗ trợ, thúc đẩy đầu tư sản xuất, nâng cao nhận thức của người dân, bảo đảm cân bằng giữa phát triển sản xuất và bảo vệ môi trường.
- Đối với 120 công trình xử lý chất thải sẽ bảo đảm xử lý 2,16 triệu m3 chất thải trong 1 năm, góp phần quan trọng trong việc cải thiện điều kiện môi trường, giảm tác động tiêu cực từ hoạt động sản xuất.
(2) Cơ sở đề xuất:
a) Cơ sở pháp lý:
- Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg ngày 9-1-2012 của Thủ tướng Chính phủ quy định hỗ trợ không quá 50% tổng vốn đầu tư xây dựng, cải tạo hệ thống xử lý chất thải của vùng sản xuất tập trung.
- Chính sách hỗ trợ đối với hộ chăn nuôi tại Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg ngày 4-9-2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định mức hỗ trợ một lần đến 50% giá trị xây dựng công trình khí sinh học xử lý chất thải.
(3) Đối tượng thụ hưởng chính sách: Tổ chức, cá nhân xây dựng công trình xử lý chất thải cho trang trại, khu sản xuất nông nghiệp tập trung.
(4) Điều kiện để được thụ hưởng chính sách: Xây dựng mới công trình xử lý chất thải có thể tích từ 1.000 m3 trở lên, phục vụ sản xuất nông nghiệp, thủy sản.
(5) Cơ chế, chính sách: Hỗ trợ 1 lần 50% tổng chi phí đầu tư làm công trình xử lý chất thải bằng công nghệ phủ bạt, hoặc sản xuất phân bón compost và không quá 300 triệu đồng/công trình.
(6) Quy mô thực hiện: 120 công trình.
(7) Định mức chi tiết cho từng nội dung hỗ trợ:
Quyết định số 2724/2015/QĐ-UBND quy định đơn giá xây dựng bể Biogas 1,7 triệu đồng/m3, công nghệ khí sinh học phủ bạt HDPE cỡ 1.500 m3 là 600 triệu đồng (trung bình 0,4 triệu đồng/m3). [Phụ biểu chính sách 9]
(8) Dự kiến nguồn lực thực hiện giai đoạn 2017-2020 là 72.000 triệu đồng, trong đó:
- Ngân sách thành phố hỗ trợ 36.000 triệu đồng (bằng 50%).
- Thu hút đầu tư của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân là 36.000 triệu đồng (bằng 50%).
5. Hỗ trợ để hình thành hệ thống cung ứng nông sản an toàn có truy xuất nguồn gốc trên địa bàn thành phố
5.1. Hình thành hệ thống cung ứng nông sản an toànthực phẩm(chính sách 9)
(1) Lý do đề xuất:
- Tình trạng chuỗi cung ứng ngành nông nghiệp kém hiệu quả, rời rạc; việc kết nối giữa cung và cầu đối với nông sản chưa hiệu quả, đặc biệt thiếu những địa chỉ uy tín cung ứng nông sản an toàn.
- Lượng nông sản cung cấp từ siêu thị BigC, Co.opmart, hệ thống Vinmart, Quang Huy… chưa đáp ứng đủ nhu cầu về nông sản an toàn tại Hải Phòng; người tiêu dùng được cung cấp nông sản phần lớn từ các chợ dân sinh.
- Đầu tư hạ tầng, cơ sở vật chất cho kinh doanh nông sản an toàn có chi phí cao nhất so với kinh doanh các mặt hàng khác; tỷ lệ hao hụt, tổn thất trong kinh doanh cao.
- Bảo quản lạnh là một trong những yếu tố chủ chốt bảo đảm giữ được giá trị sản phẩm vì đây là mặt hàng dễ hư hỏng, có tuổi đời ngắn, dễ nhiễm khuẩn, dễ hao hụt và chi phí luôn tỷ lệ với chất lượng bảo quản.
- Chưa có chính sách rõ ràng hỗ trợ phát triển cơ sở tiêu thụ nông sản an toàn thực phẩm, tạo đòn bẩy cho phát triển sản xuất, tiêu thụ, kết nối và khép kín chuỗi giá trị nông sản sạch.
- Việc hỗ trợ sẽ hình thành lên các chuỗi sản xuất, cung ứng nông sản thực phẩm an toàn khép kín, tạo cơ hội cho người tiêu dùng tiếp cận nông sản an toàn, thúc đẩy sản xuất theo quy trình sản xuất nông nghiệp sạch; nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản; tăng sản lượng tiêu thụ; khuyến khích người dân sản xuất cung cấp nguyên liệu, từ đó tăng thu nhập cho người nông dân.
- Mục tiêu hỗ trợ 100 cơ sở ước sẽ cung cấp 36 nghìn tấn nông sản an toàn tới người tiêu dùng, đồng thời tác động thay đổi hành vi, nhận thức của người tiêu dùng về nhu cầu sử dụng sản phẩm an toàn.
(2) Đối tượng thụ hưởng chính sách: Tổ chức, cá nhân đầu tư cơ sở tiêu thụ nông sản an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
(3) Điều kiện để được thụ hưởng chính sách:
- Có đăng ký kinh doanh nông sản an toàn.
- Được cấp chứng nhận cơ sở bảo đảm điều kiện an toàn thực phẩm.
- Có hợp đồng mua nông nghiệp, thủy sản tại điểm đã xây dựng thương hiệu có truy xuất nguồn gốc; hợp đồng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, thủy sản được sản xuất tại vùng tập trung an toàn thực phẩm.
- Cam kết tổ chức kinh doanh nông sản an toàn tối thiểu là 10 năm, được UBND huyện, quận và ngành chức năng thẩm định.
(4) Cơ chế, chính sách: Hỗ trợ một lần 50% kinh phí đầu tư trang thiết bị, dụng cụ giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm; hoặc hỗ trợ kinh phí thuê địa điểm trong 2 năm đầu để làm cơ sở kinh doanh nông sản an toàn (theo hợp đồng thuê địa điểm được UBND cấp xã, phường xác nhận); mức hỗ trợ không quá 200 triệu đồng/cơ sở.
(5) Quy mô thực hiện: 100 cơ sở tiêu thụ nông sản an toàn thực phẩm.
(6) Định mức chi tiết cho nội dung hỗ trợ:
- Hỗ trợ một lần 50% kinh phí đầu tư trang thiết bị, dụng cụ giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm và không quá 200 triệu đồng/cơ sở. Thực tế việc đầu tư trang thiết bị cho một cơ sở cung ứng nông sản an toàn (30 m2) phải từ 400 triệu đồng/cơ sở trở lên. [Phụ biểu chính sách 10].
- Hỗ trợ kinh phí thuê địa điểm trong 2 năm đầu để làm cơ sở kinh doanh nông sản an toàn (từ 30 m2 trở lên), mức hỗ trợ hàng tháng không quá 10 triệu đồng/cơ sở. Thực tế các cơ sở bán nông sản an toàn phải ở vị trí thuận lợi, giá thuê mặt bằng khá lớn, theo khảo sát có những điểm đến hàng chục triệu đồng/tháng.
(7) Dự kiến nguồn lực thực hiện giai đoạn 2017-2020 là 40.000 triệu đồng, trong đó:
- Ngân sách thành phố hỗ trợ 20.000 triệu đồng (bằng 50%).
- Thu hút đầu tư của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân là 20.000 triệu đồng (bằng 50%).
5.2. Hỗ trợ truy xuất nguồn gốc hàng hóa nông sản (chính sách 10)
(1) Lý do đề xuất:
- Sản phẩm nông sản, đặc biệt là sản phẩm tươi sống không có thông tin nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm, gây băn khoăn cho người tiêu dùng, khó khăn cho nhà quản lý và thiệt thòi cho những hộ sản xuất sản phẩm an toàn khi bị đánh đồng như những sản phẩm khác.
- Việc thực hiện truy xuất làm tăng giá bán sản phẩm và thói quen mua bán không quan tâm đến nguồn gốc của người tiêu dùng làm chậm việc đồng bộ hệ thống quản lý.
- Với 500 sản phẩm được hỗ trợ truy xuất nguồn gốc tập trung cho 11 nhóm sản phẩm chủ lực của thành phố, 66 nông sản chủ lực địa phương và các sản phẩm đã qua chế biến, ước cung cấp cho thị trường trên 150 nghìn tấn sản phẩm an toàn, rõ nguồn gốc, xuất xứ mỗi năm.
- Việc thực hiện truy xuất nguồn gốc thực phẩm còn hạn chế và chưa có chính sách hỗ trợ cụ thể.
(2) Cơ sở đề xuất:
a) Cơ sở pháp lý:
- Quyết định số 2457/QĐ-TTg ngày 31-12-2010, Quyết định 575/QĐ-TTg ngày 4-5-2015 của Thủ tướng Chính phủ xác định việc hỗ trợ kinh phí, tạo điều kiện thuận lợi cho xây dựng, quảng bá thương hiệu sản phẩm là một trong những giải pháp để phát triển nông nghiệp công nghệ cao.
- Quyết định số 580/QĐ-UBND ngày 16-3-2017 của UBND thành phố nêu: xây dựng hệ thống minh bạch thông tin, truy xuất nguồn gốc; thiết kế, in tem chứng nhận QR code có truy xuất nguồn gốc sản phẩm nông sản, thủy sản là một trong những nhiệm vụ thực hiện Năm cao điểm hành động quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp và an toàn thực phẩm.
b) Cơ sở thực tiễn:
- Phương pháp “truy xuất nguồn gốc” sản phẩm là yêu cầu bắt buộc ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Canada, Liên minh châu Âu…; ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh dần phát triển.
- Hải Phòng đã khởi động chương trình sản xuất an toàn, liên kết tiêu thụ, truy xuất nguồn gốc sản phẩm năm 2017; với giải pháp bước đầu sử dụng tem truy xuất nguồn gốc đến tận nơi sản xuất, định danh đối tượng sản xuất nông sản bằng mã.
(3) Đối tượng thụ hưởng chính sách: Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp, thủy sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
(4) Điều kiện để được thụ hưởng chính sách:
- Có đăng ký sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp, thủy sản.
- Được cấp chứng nhận cơ sở bảo đảm điều kiện an toàn thực phẩm.
- Tổ chức sản xuất, kinh doanh nông sản, thủy sản tại các vùng tập trung an toàn thực phẩm.
- Có phương án xây dựng mới hoặc cải tiến, nâng cấp nhãn hiệu, bao bì hàng hóa được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
(5) Cơ chế, chính sách:
- Hỗ trợ 1 lần chi phí thiết kế mới hoặc nâng cấp mẫu mã bao bì, nhãn mác; mức hỗ trợ không quá 10 triệu đồng/sản phẩm.
- Hỗ trợ 1 lần không quá 20 triệu đồng cho 1 sản phẩm để in ấn tem nhãn hàng hóa có truy xuất nguồn gốc.
- Hỗ trợ 1 lần không quá 50 triệu đồng cho 1 sản phẩm để làm bao bì bằng vật liệu thân thiện môi trường, đáp ứng yêu cầu bảo quản nông sản theo công nghệ hiện đại.
(6) Quy mô: 500 sản phẩm.
(7) Dự kiến nguồn lực thực hiện giai đoạn 2017-2020 là 200.000 triệu đồng, trong đó:
- Ngân sách thành phố hỗ trợ 40.000 triệu đồng (bằng 20%).
- Thu hút đầu tư của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân là 160.000 triệu đồng (bằng 80%).
6. Hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung (chính sách 11)
(1) Lý do đề xuất:
- Xây dựng cơ sở giết mổ động vật tập trung là việc làm cấp thiết, được nhà nước khuyến khích đầu tư nhằm cung cấp thực phẩm bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khỏe cho người tiêu dùng, phòng ngừa lây lan dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm nuôi.
- Việc đầu tư xây dựng cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung cần nhiều yếu tố: nguồn đất đai, nguồn vốn, năng lực, trình độ quản lý, vận hành của cơ sở và sự quản lý của cơ quan nhà nước.
- Để xây dựng và vận hành có hiệu quả cơ sở giết mổ tập trung cần sự phối hợp giữa nhà nước và các tổ chức cá nhân với phương châm “nhà nước hỗ trợ và nhân dân thực hiện”.
(2) Cơ sở đề xuất:
a) Cơ sở pháp lý:
- Luật Thú y năm 2015: Nhà nước khuyến khích hoạt động “xây dựng cơ sở chăn nuôi tập trung, cơ sở giết mổ động vật tập trung” và UBND cấp tỉnh có trách nhiệm “Ban hành các quy định, chính sách, hướng dẫn về hoạt động giết mổ”.
- Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19-12-2013 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn quy định: … ngân sách nhà nước hỗ trợ cơ sở giết mổ gia súc gia cầm, các hỗ trợ về đào tạo, công nghệ, chế biến… đối với doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp; Điều 19 “UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp ban hành chính sách đặc thù khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn”.
- Chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung Nghị quyết số 151/2016/NQ-HĐND ngày 13-12-2016 của HĐND thành phố.
b) Cơ sở thực tiễn:
- Thành phố chưa quy định chính sách cụ thể hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung.
- Theo quy hoạch cơ sở giết mổ gia súc gia cầm đến năm 2020, tiến hành xoá bỏ dần các điểm giết mổ tập trung tạm thời cấp xã toàn thành phố, quy hoạch xây dựng 25 cơ sở giết mổ, trong đó: 15 cơ sở đáp ứng điều kiện hỗ trợ của Nghị định 210/2013/NĐ-CP; 22 cơ sở có khả năng đáp ứng điều kiện hỗ trợ Nghị định 210/2013/NĐ-CP sửa đổi; 3 cơ sở có quy mô trung bình.
- Nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ cơ sở giết mổ tập trung:
+ Thành phố Hà Nội: Ngân sách cấp thành phố hỗ trợ 50% chi phí giết mổ tính trên đầu con gia súc, gia cầm ở năm thứ nhất, 40% ở năm thứ hai và 30% ở năm thứ ba.
+ Tỉnh Thái Nguyên: “Ngân sách tỉnh hỗ trợ 100% trong 1 năm đầu và 50% cho năm thứ 2 đối với các loại phí và chi phí sau: phí kiểm soát giết mổ, chi phí dịch vụ giết mổ”; “Hỗ trợ đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải: hỗ trợ 15% so với tổng kinh phí đầu tư, nhưng tối đa không quá 150 triệu đồng đối với dự án đầu tư từ 300 triệu đến dưới 2 tỷ đồng được; hỗ trợ 15% so với tổng kinh phí đầu tư, nhưng tối đa không quá 400 triệu đồng đối với dự án đầu tư từ 2 tỷ đồng trở lên”…
(3) Đối tượng thụ hưởng chính sách: Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung.
(4) Điều kiện để được thụ hưởng chính sách:
- Nằm trong khu quy hoạch giết mổ gia súc, gia cầm tập trung được duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chấp thuận cho phép đầu tư của UBND thành phố nếu chưa có quy hoạch được duyệt.
- Bảo đảm vệ sinh thú y, an toàn phòng, chống dịch bệnh, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường theo các quy định của pháp luật về thú y, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường.
- Nhà đầu tư phải sử dụng tối thiểu 30% lao động tại địa phương.
- Công suất giết mổ một ngày đêm của mỗi cơ sở đạt tối thiểu 400 con gia súc hoặc 4.000 con gia cầm hoặc 200 gia súc và 2.000 con gia cầm.
(5) Cơ chế, chính sách:
- Miễn tiền thuê đất trong 11 năm đầu kể từ ngày dự án hoàn thành đi vào hoạt động.
- Hỗ trợ một lần 2 tỷ đồng/dự án để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng về điện, nước, nhà xưởng, xử lý chất thải và mua thiết bị (trong hàng rào dự án).
- Trường hợp dự án chưa có đường giao thông, hệ thống điện, cấp thoát nước đến hàng rào dự án được hỗ trợ một lần 100% kinh phí để đầu tư xây dựng các hạng mục trên theo Dự án được phê duyệt và không quá 5 tỷ đồng/dự án.
(6) Quy mô thực hiện: 15 cơ sở.
(7) Dự kiến nguồn lực thực hiện giai đoạn 2017-2020 là 600.000 triệu đồng, trong đó:
- Ngân sách thành phố hỗ trợ 60.000 triệu đồng (bằng 10%).
- Thu hút đầu tư của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân là 540.000 triệu đồng (bằng 90%).
VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Dự kiến nguồn lực thực hiện [Phụ lục I]
Dự kiến tổng nguồn lực đầu tư giai đoạn 2017-2020 là 9.266.021 triệu đồng (bình quân 2.316.505 triệu đồng/năm).
1.1. Dự kiến ngân sách thành phố ứng để chi đền bù, giải phóng mặt bằng 1.190.400 triệu đồng (bằng 12,85% tổng nguồn lực), bình quân 297.600 triệu đồng/năm để thu hút doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao.
(1) Ứng để chi hỗ trợ đền bù, giải phóng mặt bằng thực hiện dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có quy mô lớn 850.200 triệu đồng, bằng 9,18%.
(2) Ứng ngân sách thành phố để trả tiền thuê quyền sử dụng đất của các hộ trong 20 năm đầu là 340.200 triệu đồng, bằng 3,67%.
1.2. Dự kiến ngân sách thành phố hỗ trợ 663.621 triệu đồng (bằng 7,15% tổng nguồn lực), bình quân 165.905 triệu đồng/năm:
(1) Hỗ trợ thực hiện dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có quy mô lớn 2.410 triệu đồng, bằng 0,03%;
(2) Hỗ trợ triển khai các dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có quy mô vừa 5.006 triệu đồng, bằng 0,05%;
(3) Hỗ trợ hộ vệ tinh 345.000 triệu đồng, bằng 3,12%;
(4) Hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy sản theo GAP là 33.705 triệu đồng, bằng 0,36%;
(5) Hỗ trợ xây dựng mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học 24.000 triệu đồng, bằng 0,26%;
(6) Hỗ trợ “mỗi làng một sản phẩm” 100.000 triệu đồng, bằng 1,08%;
(7) Hỗ trợ lãi suất vốn vay phát triển trang trại chăn nuôi 22.500 triệu đồng, bằng 0,24%;
(8) Hỗ trợ làm công trình xử lý chất thải cho trang trại, khu sản xuất nông nghiệp tập trung 36.000 triệu đồng, bằng 0,39%;
(9) Hỗ trợ để hình thành hệ thống cung ứng nông sản an toàn 20.000 triệu đồng, bằng 0,22%;
(10) Hỗ trợ truy xuất nguồn gốc hàng hóa nông sản 40.000 triệu đồng, bằng 0,43%.
(11) Hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung 35.000 triệu đồng, bằng 0,38%.
1.3. Thu hút đầu tư của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân là 7.412.000 triệu đồng (bằng 80,00% tổng nguồn lực), gấp 11,2 lần so với hỗ trợ của Nhà nước.
2. Kế hoạch tiến độ, trách nhiệm thực hiện đề án
2.1. Kế hoạch tiến độ: [Phụ lục II]
2.2. Phân công trách nhiệm:
(1) UBND thành phố thành lập Ban Chỉ đạo do Phó chủ tịch UBND thành phố phụ trách lĩnh vực nông nghiệp làm Trưởng ban, thành viên gồm thủ trưởng các sở, ngành: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, Công thương, Thông tin và Truyền thông, Lao động Thương binh và Xã hội, Khoa học và Công nghệ, Giao thông - Vận tải, Chủ tịch UBND các huyện, quận và Chủ tịch Hội Nông dân thành phố.
(2) Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan thường trực chủ trì, phối hợp với các sở, ngành và địa phương xây dựng Kế hoạch thực hiện Đề án trình UBND thành phố ban hành; căn cứ phân kỳ đầu tư hàng năm, kinh phí phân bổ hàng năm của Đề án, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính tổng hợp kế hoạch, cân đối kinh phí, trình UBND thành phố phê duyệt thực hiện.
(3) Trung tâm Xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch tổ chức các hoạt động xúc tiên doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.
(4) Các quận, huyện, các sở, ngành, các đoàn thể thành phố, các cơ quan truyền thông tổ chức quán triệt Nghị quyết, phổ biến nội dung của Đề án; xây dựng và triển khai kế hoạch hàng năm và giai đoạn đạt hiệu quả.
(5) Văn phòng UBND thành phố, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm thường xuyên theo dõi, đôn đốc các ngành, các địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện, tổng hợp báo cáo UBND thành phố.
VII. DỰ KIẾN HIỆU QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
1. Hiệu quả kinh tế
(1) Góp phần hình thành khu, vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao làm hạt nhân, ở đây ứng dụng công nghệ cao để sản phẩm có năng suất, chất lượng vượt trội, đạt tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế. Phấn đấu mỗi huyện có ít nhất 1 khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đóng vai trò động lực cơ cấu lại ngành nông nghiệp (khoảng 10% diện tích đất canh tác). Hiệu quả kinh tế tăng gấp 12 - 15 lần so với sản xuất đại trà hiện nay (hàng năm tăng thêm trên 7,5 nghìn tấn nông sản, thủy sản chất lượng cao); giá trị sản xuất đạt 2,5 - 3,0 tỷ đồng/ha/năm.
(2) Hình thành hệ thống khu, vùng sản xuất tập trung, an toàn thực phẩm; hệ thống mạng lưới trang trại, gia trại, hộ sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị là vệ tinh của doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, với khối lượng hàng hóa lớn, ổn định về chủng loại, đáp ứng yêu cầu thị trường. Diện tích chiếm khoảng 20 - 25% đất canh tác, hiệu quả kinh tế tăng gấp 5 - 8 lần so với sản xuất đại trà hiện nay (hàng năm tăng thêm trên 35 nghìn tấn nông sản, thủy sản an toàn, chất lượng); giá trị sản xuất đạt 0,8 - 1,5 tỷ đồng/ha/năm.
(4) Sản phẩm có chất lượng xuất khẩu, tương đương xuất khẩu để thu ngoại tệ hoặc không phải dùng ngoại tệ nhập khẩu, chiếm khoảng 20 - 25% tổng giá trị ngành nông nghiệp, đóng góp vào ngân sách thành phố.
2. Hiệu quả xã hội
(1) Chính sách tập trung đổi mới sản xuất nông nghiệp từ nông hộ sang tập trung nguồn tư liệu đất đai, vốn để xây dựng nền nông nghiệp thương mại, hướng mạnh sang sản xuất hàng hóa. Giá trị sản xuất trên đất canh tác toàn thành phố đến năm 2020 tăng 20 - 30% so với năm 2015. Thu nhập của người nông dân tăng 1,8 - 2 lần.
(2) Tạo sản phẩm nông sản an toàn chất lượng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước và hướng vào thị trường xuất khẩu. Phục vụ phát triển thành phố theo hướng nông nghiệp phục vụ du lịch, công nghiệp, đô thị cao cấp.
(3) Tiếp tục khai thác tối đa hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai, phân bố lại khu vực nông thôn, tạo thu nhập cho bộ phận dân cư nông thôn. Bảo đảm an sinh cho bộ phận lớn dân cư nông thôn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế thành phố.
(4) Bảo đảm hài hòa lợi ích đầu tư, phát triển giữa 2 khu vực: nông thôn và thành thị trong quá trình xây dựng thành phố Cảng xanh - thông minh - hiện đại.
(5) Góp phần hoàn thành nhanh chương trình xây dựng nông thôn mới, tiến tới xây dựng nông thôn điển hình, có nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến, đời sống vật chất, tinh thần người dân nông thôn không ngừng được nâng cao, kết cấu hạ tầng nông thôn đồng bộ, hiện đại.
Phần III
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN
Nông nghiệp, nông dân và nông thôn là vấn đề lớn, luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm; các cấp, các ngành, các đoàn thể chú trọng tổ chức thực hiện.
Liên tục qua nhiều giai đoạn, luôn có các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được triển khai thực hiện đồng bộ nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần người nông dân, xây dựng nông thôn ngày càng đổi mới.
Thực hiện các quy định pháp luật và các cơ chế, chính sách của Trung ương; trên cơ sở tổng kết, đánh giá cơ chế, chính sách của thành phố khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy sản giai đoạn 2011-2015; khảo sát tình hình thực tiễn tại địa phương và học tập kinh nghiệm từ các tỉnh, thành phố; UBND thành phố đã xây dựng Đề án Cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, thủy sản, kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập nông dân thành phố Hải Phòng giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2025.
Đề án đã được các sở, ngành, đoàn thể thành phố, UBND các huyện, quận tham gia ý kiến bằng văn bản (2 lần), đăng tải trên cổng thông tin điện tử thành phố, Báo Hải Phòng để lấy ý kiến của cộng đồng nhân dân. Nhìn chung, Đề án nhận được sự đồng thuận cao từ mọi đối tượng chịu sự tác động của chính sách.
Cơ chế, chính sách đề ra trong đề án gồm 6 nội dung, 11 chính sách cụ thể, tập trung vào: phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (như thu hút doanh nghiệp đầu tư, khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất, kinh doanh sản phẩm an toàn theo chuỗi giá trị); ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất; xây dựng hệ thống kết nối sản xuất - tiêu thụ sản phẩm an toàn và bảo vệ môi trường sản xuất…
Việc thực hiện các cơ chế, chính sách phải đạt được mục tiêu đẩy nhanh cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, xây dựng nền nông nghiệp thương mại gắn chặt thị trường, hiệu quả cao, nhằm thúc đẩy xây dựng nông thôn mới bền vững.
Việc thực hiện Đề án phải phù hợp điều kiện thực tế của thành phố, huy động tốt các nguồn lực trong xã hội, đầu tư của ngân sách nhà nước chỉ mang tính dẫn dắt. Dự kiến tổng nguồn lực đầu tư giai đoạn 2017-2020 khoảng 9.200 tỷ đồng, trong đó 80% được thu hút từ doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất, kinh doanh nông nghiệp. Đề án mang lại hiệu quả xã hội, kinh tế, môi trường cao.
II. KIẾN NGHỊ
Trên đây là những cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, thủy sản, kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập nông dân thành phố Hải Phòng giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2025, UBND thành phố đề nghị HĐND thành phố xem xét, ban hành Nghị quyết định để tổ chức thực hiện trong giai đoạn 2017-2020 và những năm tiếp theo./.
*Ghi chú:
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |