Truyện ngắn của Đoàn Thị Tảo
Chỉ chậm một phút mà tôi thành người chờ đầu tiên của chuyến sau Tôi dựa xe đứng thở. Khi chuẩn bị chuyến đi, tôi đã được cảnh báo trước: Ở cái bến phà Rừng này, chờ một chuyến sẽ khá lâu, hàng giờ là thường. Thôi! đến đâu hay đến đó, trách ai bây giờ, có chăng trách mình mải chơi lỡ chuyến. Tôi rẽ vào quán, làm một bát bún riêu cho đỡ đói. Ăn xong bà chủ quán mời một chén chè tươi đặc. Tôi bắt đầu vừa nhấm nhi cái kẹo lạc vừa quan sát bến phà. Tên là Rừng mà chả rừng tẹo nào. Cũng như những bến khác, hai dãy quán thưa khách hai bên đường. Hàng họ lèo tèo vài chai nước ngọt, bia, bánh kẹo, khoai lang, trứng luộc, quán nào cũng bán kèm bún riêu rau ghém. Tôi quay vào nói chuyện phiếm với bà chủ quán để giết thời gian.
![]() |
| Minh họa: Đặng Tiến |
Trong quán, ngoài bà chủ còn một người phụ nữ nữa. Cô có mặt trước và ngồi đối diện với tôi. Từ khi tôi bước vào quán đến giờ, tuyệt nhiên cô chưa nói một lời nào. Sự im lặng ấy làm tôi chú ý, thi thoảng lén đưa mắt nhìn trộm. Đó là một người khó đoán tuổi, có dáng mảnh mai. Vành môi sắc nét hình trái tim, sống mũi thẳng, lông mày cong gọn. Cô đeo chiếc kính râm nhẹ, nhìn vào vẫn thấy rõ hàng mi chớp chớp…
Bến đã đông dần, người đàn bà đeo kính thong thả đứng lên. Tới góc quán để xô thùng, thúng mủng, lấy từ đó cây nhị treo trên vách (hoá ra là một người hát xẩm). Cô nhẹ nhàng quen thuộc đi thẳng ra cửa. Tới chỗ giáp ranh hai quán, nơi đó có sẵn chiếc ghế đẩu, cô ngồi xuống, vắt chéo chân, không quên sửa lại dáng ngồi ngay ngắn đài các. Cô còn ý tứ khép lại tà áo và đặt bầu nhị lên đùi, dạo khúc nhạc đặc trưng của hát xẩm. Tôi ngồi quay hẳn người ra ngoài, chú ý quan sát cô. Cô không giống một người hát xẩm chút nào, có lẽ do cách phục sức của cô chăng? Búi tóc cao gọn gàng sau gáy, áo cánh phin nõn trắng may rất vừa vặn kiểu thành thị sát eo. Đôi tay mới đẹp làm sao, đôi tay như mách bảo tôi rằng: Đây không phài là người kiếm ăn bằng nghề hát xẩm lam lũ ta thường gặp tại bến sông. Tôi tin, cô biết cô đẹp. Một giọng nói ồm oàm cắt ngang luồng suy nghĩ của tôi.
- Cái nhà chị này!... Ngồi ne né sang kia cho người ta nhờ với... Hát đi cô xẩm ơi! Hát cái tích gì hay hay vào... Phà còn lâu mới sang...
Cô hắng giọng, rồi vừa kéo nhị vừa hát:
- Ơ...Ơ...Ơ... Mải chơi...Ơ... để lỡ chuyến đò.
Ngẩn ngơ trách bến oán bờ giận sông ...ơ ....ơ ...ơ ......
Giọng cô trong cao, thu hút ngay những người quanh đấy. Tôi đồ rằng cô có nỗi trắc ẩn gì đó đang gửi gắm vào câu hát. Tôi không nhớ cô hát gì sau đó nữa. Chỉ láng máng bóng gió như hận tình duyên ngang trái, nuối tiếc giận hờn cho cái điều biết thế. Cái biết thế thật chua xót cho cả tôi lẫn cô, cho những ai có thời để Lỡ:
Mải chơi để lỡ chuyến đò
Ngẩn ngơ trách bến oán bờ giận sông
Nhiều người cho cô tiền. Cô không ngừng hát để xin, như không cần biết người ta có cho hay không. Ông xe thồ đẩy bật tôi lui vào trong, để cho nốt chân kia sang cùng một phía, vừa nghe vừa xuýt xoa: “Hát thế mới là hát chứ! Văn công trên tỉnh cũng không bằng... Tuyệt thật...Tuyệt thật....”. Cô còn hát nhiều bài nữa. Lời nào tôi nghe cũng lạ tai. Trừ mấy câu vọng cổ trong vở Lan và Điệp.
Không hiểu tôi có duyện nợ với cô xẩm từ kiếp trước hay sao, mà những câu hát cùng hình ảnh cô cứ bám chặt lấy tôi mãi sau này. Tôi tự hứa với mình sẽ có một ngày về lại bến phà Rừng. Tìm hiểu ngọn nguồn, gia cảnh cô xẩm cho thoả trí tò mò.
Thế mà mãi 5 năm sau, tôi mới có dịp quay lại. Nhưng cô xẩm của tôi không còn đó. Tôi lân la dò hỏi, tìm đến cái quán bà Tư bún riêu, mà trước cô xẩm ở nhờ. Và cũng chính cái quán đó, tôi gặp cô. Tôi gọi một bát bún, vừa ăn vừa xuýt xoa khen ngon, khen rẻ để bắt chuyện. Bà Tư là người xởi lởi, mau miệng, đúng là người tốt bụng. Khi tôi hỏi thăm đến cô xẩm, bà chép miệng, thở dài đến sượt.
- Cô ấy vào Sài Gòn rồi .... Người ta sướng khổ đều có số cả. Ai nắm tay tới sáng mà biết được cuộc đời trôi nổi ra sao. Con người rõ hiền lành, nết na... Giời cũng có mắt. Ăn nhau ở hậu vận...
Một buổi chiều sông nước mênh mang, bà Tư bắt đầu kể, bến phà vắng người. Đã ba hôm liền, có một người phụ nữ cứng tuổi, dắt theo đứa trẻ chừng lên sáu lên bẩy. Con bé thì đúng là trẻ vùng này, họ thường dắt nhau ra mỏm kè kia ngồi chơi, chuyện trò, có khi xâm xẩm tối mới về. Bao giờ cũng thế, thiếu phụ rẽ vào quán tôi mua quà cho con bé, khi thì gióng mía, lúc cái kẹo, bác bác cháu cháu ríu rít hay đáo để. Người bác không được tinh tường cho lắm, thật tội nghiệp! Người trông rõ mỏng mày hay hạt. Nói giọng Hà Nội nhẹ nhàng dễ nghe. Một lần, mời người bác chén nước nóng, tôi hỏi chuyện con bé :
- Mày con cái nhà ai trong làng thế ? Rồi tôi quay sang hỏi người bác : - Bác chắc mới về chơi vùng này hẳn ? ...
- Vâng! Cháu con mẹ Xuân nó, Xuân - An ấy mà. Người bác đỡ lời cho cháu.
- Tưởng ai chứ nhà Xuân làng Hạ thì tôi biết rồi! Con này giống mẹ thế... Thảo nào cứ thấy ngờ ngợ... Ấy! Vẫn ra quán tôi mua rượu cho chồng. Gớm đôi này tham công tiếc việc lắm. Chồng đi te vợ vác giậm theo sau, cấm lọt đi đâu tý nào...
Bẵng đi mấy hôm, cô Xuân dẫn người chị họ và cây nhị ra quán bà Tư. Xin bà cho ngồi nhờ, để hát giúp vui khách chờ phà. Sáng thì con út dẫn ra, chiều con chị dẫn về. Được ít lâu cô xẩm mua một căn nhà nhỏ cuối bến để ở. Ngày ngày dò dẫm ra quán ngồi hát, cơm cháo cô nhờ cả vào bà. Cô xẩm kín đáo lắm. Mãi sau này, cả khi cô đã vào Nam, chắp nhặt chuyện của người trong làng ra ăn quán, cũng có đôi lần cô Xuân kể cho nghe, bà mới biết tường tận về cô xẩm. Sao có người hồng nhan bạc mệnh đến thế.
Chiến thắng Điện Biên. Hà Nội háo hức chờ đón hoà bình lập lại. Gia đình ông phán Tâm cửa đóng im ỉm. Gia đình chuẩn bị đóng gói vào Nam, mặt ai nấy buồn rười rượi. Nhất là cô Oanh con gái cả của ông bà, lúc nào nước mắt cũng vòng quanh. Bà cụ sinh ra ông phán tuổi đã cao, mắt loà chân chậm. Cụ nhất định không đi, đường xa cách trở, nhỡ có chết, nó vứt xác xuống sông xuống biển mất tăm. Thôi thì đằng nào cũng chết, chết ở quê nhà còn mồ còn mả, còn có chỗ mà hương khói. Cô Oanh thương bà nội lắm, cô xin được cùng chị sen tên là Xuân ở lại chăm nom bà. Hai năm nhanh thôi mà. Nhưng còn một lý do cô không nói ra. Cô chờ bộ đội về tiếp quản thủ đô, trong đó sẽ có người bạn trai của cô từ chiến khu trở về. Anh bỏ học trốn nhà theo cách mạng. Trước lúc ra đi, họ hò hẹn đợi chờ. Anh nói với cô nhiều lắm, còn chép hẳn vào sổ tặng cô những vần thơ thể hiện ý chí người anh hùng:
“...Một giã gia đình một dửng dưng...
... Chí lớn không về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại
Ba năm mẹ già cũng đừng trông ...
Có trời cao đất rộng, và thi sĩ Thâm Tâm chứng giám cho lòng người anh hùng, xả thân vì nghĩa lớn. Cô gái trẻ dành trọn trái tim cho thần tượng của mình. Nguyện chung thuỷ đợi chờ. Dù có hết đời này thì chờ sang kiếp khác.
Miền Bắc hoàn toàn giải phóng được hai năm. Nhưng Nam Bắc vẫn chia ly. Người hùng của cô chưa về, cũng không có tin tức. Bà nội mất, chị sen Xuân xin về quê. Căn nhà rộng thênh thang còn mình Oanh ra vào thui thủi, đồ đạc bán dần đi ăn. Cô xin vào tổ đan len, sinh hoạt thanh niên khối phố. Nhờ bạn bè giới thiệu, cô quen được một ông giám đốc xí nghiệp. Ông người Đà Nẵng tập kết ra Bắc. Cùng cảnh ngộ xa cách gia đình, nên ông thương cô lắm. Thi thoảng ông đến chơi, chú cháu chuyện trò tâm đắc. Ông coi cô như con, chia sẻ cùng ông vui buồn lo lắng. Ông xin cho cô vào cơ quan ông làm văn thư. Cuộc sống cô tạm thời yên ổn. Nhưng cô không nguôi nhớ đến Lâm người bạn trai hẹn ước năm nào. Bạn bè ra chiến khu dạo ấy, hầu như đã về thành cả. Cô dò hỏi tin anh, được biết: Thời gian đầu, anh có mặt trong đội tuyên truyền, đánh đàn măng-đô-lin vê ròn như thóc rang. Anh hát hay vẽ giỏi, nhiều cô chết mê chết mệt. Sau này ta mở chiến dịch, họ phân tán theo các đơn vị chiến đấu. Nghe đâu anh trong ban chính trị hậu cần. Mà hình như đã chuyển ngành thì phải.
Rồi họ cũng gặp được nhau. Vào một chiều chủ nhật, ngay bến xe điện Bờ Hồ. Trong đám người đứng chờ, Oanh thấy dáng người đứng trước mình quen quen. Đúng rồi! Oanh len lên, mặt đối mặt. Trời ơi! Thật hay mơ, Lâm của cô đây rồi. Họ nhìn nhau không chớp mắt, tay nắm tay không nói lên lời. Nước mắt Oanh cứ trào ra không kìm nổi. Cô rút tay khỏi tay Lâm đang run lên nắm chặt, hai tay ôm mặt nức nở. Oanh như mê đi trong cảm xúc, cô không thể nhớ bằng cách nào Lâm đưa được cô về đến nhà. Giờ đây chỉ có hai người bên nhau, trong căn nhà đầy ắp kỷ niệm. Họ kể cho nhau nghe hết chuyện này lại lan sang chuyện khác. Lâm đã chuyển ngành, phụ trách công đoàn một nhà máy lớn thuộc tỉnh Thái Nguyên. Hay về Hà Nội họp, lần nào cũng có ý tìm Oanh, nhưng không gặp.
Ông chú Đà Nẵng tới, cô giới thiệu ông với Lâm: Đây là ân nhân của cô trong những ngày đầu khó khăn.
- Chú coi em như con. Cho em đi học đánh máy. Xin cho em làm văn thư xí nghiệp của chú. Chú ơi! còn đây là anh Lâm mà chú đã biết qua những lần cháu kể với chú. Chú cũng là bộ đội chuyển ngành anh ạ !
Ông đưa tay bắt tay Lâm thân tình như chính mình gặp lại người thân. Oanh ríu rít chuyện trò với cả hai người. Lâm có vẻ dè dặt thăm dò, và không được tự nhiên cho lắm. Lâm còn qua lại nhà Oanh nhiều lần. Họ tung tẩy tay trong tay chuẩn bị cho ngày cưới. Cô phần nào quên mất ông chú Đà Nẵng. Ông im lặng từ xa nhìn theo từng bước của họ. Ông giấu tình cảm vào trong lòng, mà họ thì đâu còn thời gian để biết ai vui hay buồn. Mỗi khi rời nhà Oanh tiếng thở dài theo ông khắp nơi, mọi chỗ. Ông hứa với cô sẽ xin cho Lâm chuyển về Hà Nội. Ông đang lựa chỗ phù hợp mà ông có thể nhờ cậy. Ông bảo chuyện cưới xin mới quan trọng. Lâm hãy mời gia đình về, ông và công đoàn sẽ thay mặt nhà gái. Cơ quan sẽ tổ chức đời sống mới cho hai người.
Lâm cứ dăm bữa nửa tháng lại về thăm Oanh một lần, vào tối thứ bảy, chiều chủ nhật lại đi. Tình cảm thật đằm thắm khi họ phải chịu một thời gian dài xa cách. Thế mà hai tháng nay Lâm bặt tin, để Oanh trông đợi. Mỗi ngày một nặng nề buồn nhớ, Oanh khóc hết nước mắt. Cô chỉ mong Lâm trở lại cho cô giãi bày gan ruột, giải nỗi oan với anh. Lâm đôi ba lần gạn hỏi mối quan hệ của cô với ông chú Đà Nẵng. Cô tình thực trả lời rồi, mà anh còn để bụng nghi ngờ. Anh viết một lá thư để lại cho cô, rồi bỏ đi như thế này. Trong thư anh bóng gió xa xôi, trách cô ăn ở hai lòng, tham địa vị giầu sang, nào ai học được chữ ngờ. Anh viết nhiều nhiều lắm. Cô giấu biến lá thư không nói với chú. Mặc cho ông gạn hỏi thắc mắc trước thái độ lạ lùng của Lâm.
Không chờ đợi hơn nữa, cô lên Thái Nguyên tìm đến cơ quan anh. Một anh Lâm ra gặp, nhưng không phải là Lâm của cô. Anh cũng không biết anh Lâm trong ảnh là ai. Cả xí nghiệp không có ai tên là Lâm ngoài anh. Một tuần, lại một tuần nữa trôi qua, Lâm vẫn bặt tin.
Lòng thầm trách Lâm, cô bỏ ăn biếng làm, bơ phờ buồn chán, vật vờ như cây cỏ dại sau bão. Sự hệ trọng mỗi ngày một rõ. Ông chú đôi lần lựa lời hỏi cô có cần sự giúp đỡ của ông. Sự vụ tế nhị ấy không thể chần chừ, càng nhanh, gọn nhẹ càng tốt. Theo nhận định của ông thì Lâm sẽ không về trong lúc này.
- Cháu lại khóc rồi!... Đừng tự làm khổ mình như thế... Thôi được!... Hãy chờ... Hôm nay chú phải đi công tác tại Sơn Tây. Đến chủ nhật này, chú sẽ đưa cháu lên Thái Nguyên một lần nữa, sẽ tìm bằng được Lâm cho cháu.
- Không cần đi nữa đâu chú ạ!....
Ông đâu có biết, hôm qua cô nhận được thư Lâm. Cô nhận ra sự dối trá trong những lời lẽ quanh co lươn lẹo. Chờ ông chú Đà Nẵng ra xe, cô vào bàn viết mấy chữ để lại. Rồi cô thay quần áo đẹp, lên giường nằm ngay ngắn chờ giấc ngủ sau khi uống hết hai vỉ thuốc giấu dưới gối.
Ông chú đi được nửa đường hỏng xe, sửa mãi, muộn họp phải quay về. Kịp thời phát hiện đưa cô đi cấp cứu. Cô thoát khỏi lưỡi hái tử thần. Vụ tự tử hụt ấy làm sức khoẻ cô suy sụp, cô lai rai ốm. Đáng ngại nhất là đôi mắt cứ mờ dần. Nếu bỏ kính, ánh sáng làm buốt nhức và nước mắt cứ dàn dụa. Ông chú chạy chữa tận tình, đôi mắt có khá lên đôi chút. Ông càng tận tình bao nhiêu, miệng tiếng càng râm ran bấy nhiêu. Thì thào khắp xí nghiệp. Người ta kháo nhau, chưa biết chừng ông chú là nguyên nhân sâu xa của vụ tự tử ấy.
Oanh viết đơn xin thôi việc. Một thời gian sau, chú cũng chuyển tới đơn vị khác.
Vào một chiều đông, thấy Oanh co ro thu mình, ngồi bất động trên ghế, nhìn qua cửa sổ im lặng thở dài. Ông tới trước mặt cô, đặt đôi bàn tay tin cậy lên vai Oanh và nói rành rọt:
- Tôi thành thực yêu em, em có biết không... Sao em cứ tự làm khổ mình mãi thế... !
- Em biết... Nhưng em không thể quên đi nỗi buồn này... Chúng ta cứ sống như thế này có được không?
Và họ cứ thế đi bên nhau.
Ông chú Đà Nẵng lên đường vào Nam chiến đấu. Họ chia tay và bặt tin nhau từ đó.
Bến ô-tô Hà Đông mới có thêm một quán nước. Quán nằm khiêm tốn một góc bến, nhưng không vắng khách. Chẳng phải hàng hoá có gì đặc biệt, chỉ có cô chủ quán là khá đặc biệt. Quán gọn gàng thanh lịch, một tấm bình phong che một phần ba phía sau để ở, phần ngoài bán nước bình dân. Vẫn còn một khoảng sân sau nho nhỏ làm bếp. Oanh, cô chủ quán luôn đeo một chiếc kính nâu nhạt. Cùng đứa con đầu của chị Xuân độ chín mười tuổi dọn quán bán hàng. Ngày ngày cô tiếp xúc xô bồ với đủ dạng người. Nhâng nháo táo tợn nhất phải kể đến cánh lái phụ xe. Nhưng cô được một người có thế lực ở bến che chở giúp đỡ. Người này trước đây mang ơn bố cô sâu nặng. Cánh lái phụ xe có phần nào nể mặt ông, nên họ chỉ võ mồm là chính. Họ độc chiếm quán mỗi khi về bến. Họ ồn ào tếu táo, cô chủ ít nói, chỉ cười trừ trước những câu vơ vào của họ. Có người tay tranh rót nước cho khách, miệng thì liến láu, mặt tỉnh queo.
- Mời bác xơi nước... Em mở quán nhì nhằng cho nhà em buôn bán... Cốt sao được gần gũi... Cứ về đến bến là trông thấy nhau ...
Những câu nói đại loại như thế không ít. Họ bàn ra tán vào, cố tìm hiểu đời tư cô chủ. Người xinh xắn nết na, ăn nói khiêm nhường, tốt bụng, thương người. Chả thế mà cô cho một bà hát xẩm già vô gia cư vẫn lang thang hát trong bến ở nhờ. Tối tối bà dạy cô đàn, cô đặt lời để bà hát, hay đáo để. Cuộc sống của Oanh cứ bình thản trôi đi.
Sắp đến tết. Bến xe đông vui hơn mọi khi. Cứ đúng lệ, vào những ngày này chị Xuân lại ra chơi. Trước là phụ giúp cho hai bác cháu, rồi chờ tới ba mươi đón hai người về quê ăn tết. Nhìn cảnh nhộn nhịp người người đón tết, Oanh không khỏi chạnh lòng nhớ tới gia đình. Có khách vào quán, cô như sực tỉnh.
- Anh dùng gì ạ !
- Chị cho xin chén chè mạn.
Khi Oanh trao tay khách chén nước, họ nhìn sững vào mặt nhau. Nhưng rồi cả hai vội đưa nhanh mắt đi nơi khác. Khách im lặng hút thuốc, thi thoảng lại nhìn trộm Oanh. Chưa tàn điếu thuốc, khách bồn chồn quay vào hỏi Oanh :
- Xin lỗi! Tôi trông chị quen quá... Mình đã gặp nhau ở đâu rồi thì phải. Chị rất giống một người bạn học của tôi.
- Anh có phải là Tuấn, Tuấn Ngõ Gạch không. Họ nhận ra nhau trong bồi hồi xúc động. Hàn huyên thăm hỏi nhau một lúc, rồi Tuấn hạ giọng:
- Thế mà mà bao năm trôi qua. Kể từ dạo chia tay Oanh bọn mình ra chiến khu. Như một đàn chim tan tác mỗi người một nơi, rồi thì bom đạn chẳng biết ai còn ai mất. Tôi có gặp Lâm, hỏi thăm hắn tin tức về chị. Hắn buồn lắm vì không tìm thấy nhau. Tất cả cũng là duyên số thôi... Bây giờ hắn khá lắm, vợ đẹp con khôn, nhà xây to đùng giữa phố. Từ Bắc Cạn hắn đi họp ở Hà Nội luôn, thi thoảng vẫn ghé qua tôi chơi, anh em tâm sự nhắc lại kỷ niệm xưa... Về lần này tôi sẽ cho hắn hay tin. Hắn mà biết Oanh ở đây chả lồng xuống ngay ấy chứ... Hắn tốt phúc thật. Cũng là nhờ được bên nhà vợ..., nhà khá giả ông cụ lại làm to.
Tuấn còn nói nhiều lắm. Oanh như người mất hồn. Tiễn Tuấn ra xe, trở về quán cô nằm vật ra giường, nước mắt giàn giụa. Cô nằm lịm không nói nửa lời. Chị Xuân tưởng cô ốm. Rồi cô ốm thật, người hâm hấp sốt, chân tay lạnh cứng. Chị Xuân lo quá, đánh cảm gió cho cô, đồng bạc đen sì. Chị nấu một bát cháo hành, tía tô, nhưng cô nhất định không ăn. Hai ba ngày sau cô tỉnh dần. Nhiều năm trôi qua, cô tưởng đã nguôi ngoai. Tin này làm cô buồn lắm, chẳng thiết gì hàng quán. Bà xẩm già, cuối năm mưa phùn gió bấc, sức lại quá yếu, hát chẳng ra hơi, bỏ nghề tìm về quê từ dạo chớm đông. Trước khi đi bà chào cô và tâm sự đôi lời:
- Cũng là duyên may, cuối đời tôi còn gặp một người tốt bụng như cô, cưu mang nâng đỡ. Ơn này chẳng biết lấy gì đền đáp. Cây nhị này theo tôi mấy chục năm, nay tôi gửi gắm nơi cô cho nó có bầu có bạn. Còn cái thân tôi tìm về quê gửi xác, chả nghĩ có ngày tái ngộ... Cứ trông gương tôi “có con tội sống, không con tội chết”... Cô nên xem nơi nào tử tế mà gá nghĩa phu thê... Kiếm mụn con về già mà nương tựa...
Mẹ con chị Xuân đón cô về làng Hạ từ dạo đấy. Rồi cô trở thành cô xẩm trên bến sông này. Những ngày đầu, còn sớm đi tối lại về trong làng. Sau cô mua một căn nhà cuối bến ở cho tiện. Có khối người tỉ tê thăm ván bán thuyền, nhưng cô không ưng ai. Một hai ở vậy. Có một ông vó bè, người nơi đâu tới đây đóng vó kiếm ăn trên quãng sông này. Ông phải lòng cô ra mặt. Người chắc chắn, mới ngoài năm mươi, phải cái tội hơi nát rượu.
Một tối bến lên đèn, trời sắp mưa đứng gió oi nồng. Lão vó bè áo vắt vai, bước thấp bước cao xiêu vẹo, ông tới gõ cửa nhà cô. Cô không mở. Đêm ấy bão đổ về to quá lại đúng lúc triều cường, quán xá xiêu vẹo. Nước mấp mé mặt đê, dân đổ ra chống giữ những quãng đê xung yếu. Mãi trưa hôm sau, có người ra thăm sông nước, phát hiện lều vó đã bị bão tốc mái ra xa. May mà những gì còn lại đã đổ sập vào phía trong bờ. Người ta bới đống cây que tìm thấy ông lão, chết lạnh cứng từ bao giờ. Chai rượu hết nhẵn lăn lóc bên cạnh. Hai bàn tay gân guốc nắm chặt chiếc nhẫn vàng một chỉ gói trong mảnh vải buồm nâu cũ. Ai cũng bảo ông ấy chu đáo thế, chắt chiu dành dụm lo cho việc hậu sự của mình. Chỉ có Oanh là người biết được nguồn gốc chiếc nhẫn ấy.
Cách đó ít lâu, một buổi chiều ông vó bè quơ vó buộc cần, rồi xách một con cá to về bếp nhà Oanh. Xì xụp nấu nướng. Ông lôi trong bị ra chai rượu nửa lít, rót cho Oanh lưng lửng chén, còn ông cạn hết chén này đến chén khác. Chai rượu gần cạn, ông e hèm mấy cái rồi cất lời...
- Cô Oanh ạ! Tôi không muốn cô đi hát nữa... Tôi cầm lòng không nổi khi nhìn vào đôi tay cô kéo nhị... Cô có biết không, ngày xưa ở cái làng chài quê tôi, đàn ông đàn bà, ngụp lặn bờ sông bãi sú, kiếm tôm cá cáy còng, người chẳng ra người, đôi tay to bè chai sạn. Có hai mẹ con nhà nọ, đến tá túc làng tôi làm nghề vá lưới độ thân. Cô con gái mới khéo làm sao... Miếng vá đẹp cứ như thêu vào ấy. Rách kiểu gì cô cũng tìm được cách vá. Người vụng rách bé, xé ra to, giăng miếng vá lên thì dúm dó thiên thẹo. Đây ấy à... - tay nâng chén rượu mà hồn bảng lảng bay đâu, đôi mắt xa xăm, ông cứ thủng thẳng nói , không cần biết Oanh có nghe hay không - ... Đây ấy à! ... Chao ôi!... Giăng lưới lên, những miếng vá đẹp như tranh vẽ... Đôi tay cô ấy mới đẹp làm sao, thon thả nõn nà. Như ả đào đang gõ phách mềm mại trên tấm lưới rách nát tanh tưởi ... - Ông rót cho mình lưng chén, làm một tợp, khà rất to cho hả nỗi niềm - .... Cô Oanh ơi !... Tôi đã chắt chiu dành dụm bao ngày, mới mua được một chỉ vàng. Chỉ chờ có cơ hội nõng bàn tay tiên, đeo chiếc nhẫn vào và xin gá nghĩa trăm năm... Đau đớn quá!... Cô Oanh ơi!... Giờ thì cái nhẫn mà cô ấy chưa được một lần đeo, vẫn còn đây (ông vỗ đồm độp vào ngực mình)...
Ông ngồi lặng đi, mắt rơm rớm lệ. Oanh cũng thấy ngậm ngùi... Một lát ông đứng dậy chẳng chào hỏi, lững thững đi như người mộng du ra cửa.
Được vài ngày, ông lại ghé vào chơi với Oanh. Trời nhá nhem tối. Oanh ngửi thấy mùi rượu, nhưng trông cung cách đi đứng của ông thì chưa đến độ say xỉn. Cô mời ông ngồi rồi đi pha ấm trà ngon. Cô lựa lời hỏi ông câu chuyện mà lần trước ông còn bỏ dở:
- Ông ơi ! Cô gái vá lưới hôm nọ ông kể ấy, bây giờ ra sao rồi ? Cô ta từ chối quà tặng của ông à ?
- Nào có kịp biết, kịp đưa. Lần ấy tôi đi cùng đội thuyền đánh cá của hợp tác xã tìm lưồng ngoài khơi xa, gặp bão lớn. Cô còn nhớ cơn bão số bẩy năm sáu chín không? Thế là chúng tôi gặp nạn, thuyền tôi bị vỡ may mà còn sống sót dạt vào Nghệ An Thanh Hoá. Bà con địa phương cưu mang đùm bọc thuốc thang, mỗi người một tý giúp cho tiền lộ phí tìm đường về quê. Cơn bão năm ấy to quá, lũ về nhanh, quê tôi vỡ đê ba tổng, nước ngập trắng đồng. Người sống sót chạy tứ phía. Chờ cho nước rút về mà nhặt nhạnh, còn gì quý nấy. Mẹ con cô ấy không thấy về. Chỉ sợ sóng cuốn ra bể. Nếu sống thì phiêu bạt nơi đâu? Một tháng sau tôi về đến nhà. Trông cảnh nhớ người. Tôi bỏ quê lang thang đi tìm mẹ con cô ấy. Nơi cửa sông bãi sú khắp chợ cùng quê tới tận bến sông này. Nản quá, cũng nói thật với cô tìm mấy năm rồi, con gái có thì, chắc giờ còn sống cũng lập gia đình, con bế con bồng chứ chơi à! Với lại mình đã hứa hẹn đính ước gì đâu mà người ta chờ với đợi ...
Ông ta lận trong túi áo ngực khâu phía trong, được cài kim băng cẩn thận. Lôi ra một túi nhỏ bằng vải buồm nâu cũ, mở dây thắt miệng túi dốc dốc ra tay. Chiếc nhẫn vàng một chỉ còn mới nguyên nằm gọn trong miếng bông gòn cáu bẩn. Ông chìa về phía Oanh, ngập ngừng nói từng tiếng một:
- Chiếc nhẫn ấy đây!... Bao năm tôi mơ ước được lồng vào tay cô ấy... Giờ thì xin cô Oanh nhận lấy tấm thịnh tình của tôi, và cũng là cho nó có chủ. Thôi thì cùng cảnh ngộ đơn chiếc, nương tựa vào nhau... Cô đừng đi hát nữa... tội lắm...
Oanh sửng sốt trước lời đề nghị của ông. Cô chưa bao giờ nghĩ tới việc sẽ làm vợ ông. Oanh ngập ngừng:
- Ông ạ!... Ông thứ lỗi cho tôi, nửa ngày về sáng còn chẳng ăn ai, huống hồ chiều tối... Mắt mũi kém cỏi... Già rồi...
Độ nửa tháng sau thì xảy ra trận bão oan nghiệt đó. Trước khi bão đến, ông ta gõ cửa nhà Oanh, lè nhè van vỉ. Ông nhất quyết xin lấy cô...
Tuần rằm Oanh ra mộ thắp cho ông nén nhang. Đủ bốn chín ngày, đến bữa cô và bà Tư vẫn bát cơm muối gừng, mời ông về thụ hưởng.
Giải phóng miền Nam.
Ông chú Đà Nẵng trong đoàn quân tiếp quản Sài Gòn. Chẳng khó khăn gì, ông tìm thấy gia đình Oanh. Cậu Hải em út của Oanh giờ là bác sĩ trong một bệnh viện lớn. Ông phán Tâm đã mất, bà Tâm già yếu, bà ở cùng cậu út Hải. Ông chú Đà Nẵng thưa chuyện với bà phán cùng cậu Hải về tình cảm gắn bó giữa ông và cô Oanh khi ông còn công tác tại Hà Nội. Hoàn cảnh của ông hiện nay vợ mất, con gái trưởng thành. Nay ông muốn ra Bắc đón Oanh về sum họp với gia đình, và cũng mong được toại nguyện sống bên nhau lúc cuối đời. Hải đòi đi cùng. Cậu cho biết đã liên lạc được với chị Xuân. Oanh vẫn còn ở làng Hạ.
Hơn hai mươi năm chị em mới gặp được nhau. Cậu Hải thương chị quá, ôm Oanh khóc như mưa. Cô ra mộ ông vó bè, thắp nhang khấn vái, còn dặn chị Xuân cuối năm đưa ông vào chùa. Trước khi đi cô chào hết lượt xóm bến này.
Tôi đưa mắt nhìn xóm Bến mà cũng thấy nao nao trong lòng. Xóm lèo tèo mấy hàng quán thưa người. Đã gắn bó cưu mang, những số phận đáng thương như cô xẩm và ông cất vó bè. Tôi cũng sắp chia tay với xóm Bến, nhưng sẽ chẳng ai nhớ đến tôi. Bà Tư trả tiền thừa cho tôi còn nói nốt câu chuyện về cô xẩm:
- Hôm vừa rồi cô Oanh viết thư cho tôi. Nhớ xóm lắm, hẹn chúng tôi đến thanh minh sẽ đưa mẹ ra Bắc chơi. Mắt cô sáng ra nhiều, nhưng vẫn phải đeo kính. Nhờ cậu em là bác sỹ giỏi, tận tình chữa chạy cho chị. Cô sống cùng ông chú Đà Nẵng ở quận ba thành phố Hồ Chí Minh.
Rồi bà chép miệng nói một câu mà bà cho là tâm đắc.
- Con người ta có số, ai nắm tay đến sáng mà biết được cuộc đời trôi nổi ra sao. Cái cô Oanh được người được cả nết... Trời cũng có mắt... ăn nhau ở hậu vận...