Nhà thơ Thanh Tùng.

Sinh ra để cho thơ…
“Tôi sinh ra là để cho thơ/ Tôi hiểu thế từ còn thơ dại” (Sinh nhật). Câu thơ chân thực như lời gan ruột của nhà thơ Thanh Tùng. Như nhà thơ Đặng Huy Giang chia sẻ, nói đến thơ Thanh Tùng là nói đến cảm xúc. Nhà thơ để những xúc cảm của mình tràn ra trên trang giấy, nhịp lên, xuống cũng để cảm xúc dẫn dắt. Thanh Tùng như được trời sinh ra để làm thơ. Trong ông luôn dồi dào cảm xúc và sẵn nguồn thơ. Thế nên, bao lửa ấm nhà thơ dồn cho thơ. Như là định mệnh, như là bản năng, như một điều gì đó không thể thay đổi. Sinh thời, để kiếm sống, nhà thơ Thanh Tùng phải lăn lộn từ nghề giáo cho đến thợ sắt, áp tải hàng hóa kiêm cửu vạn, bán hàng… Rồi chính những trải nghiệm cuộc sống đó kết tinh thành những bài thơ với những câu thơ chân thực: “Mỗi nhát bay/ Mỗi hạt mồ hôi cháy dưới mặt trời/ Nếu tìm anh, em hãy lên đây/ Nơi mỗi sáng anh đặt viên gạch/ Gọi mặt trời thức dậy/ Nơi mỗi chiều viên gạch/ Còn như mảnh mặt trời/ Chưa chịu lặn trong tay” (Lên cao). Chỉ những người lao động mới cảm nhận được sức nóng của những hạt mồ hôi đang cháy dưới mặt trời. Chỉ những nhà thơ, người thợ mới cảm nhận được “viên gạch” như “mảnh mặt trời” lúc gọi mặt trời thức dậy, lúc lại chưa chịu lặn trong tay. Nghề khuân vác cực như thế, ấy vậy mà nhà thơ lại yêu đến vô bờ. Tình yêu ấy thể hiện qua những câu thơ như thế này: “Cái nghề khuân vác của tôi/ Trong cơn mơ còn thấy những giọt mồ hôi cười/ Tôi sợ nó và tôi yêu nó/ Như người mẹ sợ cơn đau đẻ nhưng vẫn thèm có con”. Đọc những dòng thơ mới thấy Thanh Tùng yêu cuộc sống này đến vậy. Chỉ câu ví von “người mẹ sợ cơn đau đẻ nhưng vẫn thèm có con” đủ để chinh phục tất cả những người phụ nữ. Vì chỉ phụ nữ mới hiểu cảm giác này. Vậy mà Thanh Tùng hiểu và truyền tải được cảm xúc của người thợ với giọt mồ hôi với cảm giác người đàn bà thèm con mà sợ đẻ…

Đất cũng hóa thành thơ
Yêu cuộc sống, mỗi thành phố nhà thơ đi qua đều trở thành mạch cảm xúc bất tận trong thơ. Bắt đầu từ thành phố Cảng, nơi ông trưởng thành: “Nơi dòng sông chảy ra ôm choàng lấy biển/ Nơi con tàu rúc còi chào bến cảng/ Dãy phố của tôi/ Nơi tôi leo nhẵn bao thân bàng sù mốc/ Mài viên bi lẹm cả bìa đường” (Phố cửa biển). Những ký ức tuổi thơ sẽ là điều còn lại trước mỗi chuyến đi được Thanh Tùng ghi lại: “Mai tôi đi rồi/ Tôi có khóc đâu mà gió ướt/ Mà nắng rát lên môi mặn chát/ Mai tôi đi rồi để lại đây tiếng búa khắc vào hồn phố” (Hải Phòng lúc ra đi). Cũng chính những ký ức đẹp về người vợ thành phố Cảng, để rồi nghe tin bà mất trên bờ biển Quảng Ninh, cảm xúc dồn nén, mất mát bao ngày tháng như suối chảy ra thơ: “Hoa như mưa rơi rơi/ Như tháng ngày xưa ta dại khờ/ Anh đâu buồn mà chỉ tiếc/ Em không đi hết những ngày đắm say” (Thời hoa đỏ). Đúng như lời tự sự của ông: “Hải Phòng ơi/ Người đã nhận của tôi nước mắt mồ hôi/ Rồi trả lại cho tôi những câu thơ lửa” (Hải Phòng hôm nay). Mỗi nhà thơ chỉ cần lưu lại một câu thơ trong lòng người đọc là thành công. Vậy mà, Thanh Tùng lưu lại cả một thời hoa đỏ. Bao cô gái, chàng trai tiếc nuối nhiều đến thế. Khi mỗi mùa hạ về, phượng vẫn rơi… Khi tình yêu đến rồi lại đi sau đó. Thành phố của hò hẹn mang tên thành phố hoa phượng đỏ… Để Thanh Tùng, nhà thơ, người thợ thành một trong những người viết thơ tình hay nhất của Việt Nam. Đọc thêm nữa “Hải Phòng muối của đời tôi”, “Hải Phòng hôm nay”, “Ở ga Hải Phòng”… càng nhận ra Hải Phòng- máu thịt trong ông để thơ cất cánh bay lên. Thay lời kết lại bài viết này, đúng như nhà thơ Nguyễn Việt Chiến nhận định, cái phong vận của người thơ tài hoa ấy có hai nét nổi bật đẫm chất thơ, chất sống Hải Phòng. Đó là sự phóng khoáng trong nhịp điệu thơ ca và sự phiêu bạt trong cảm xúc và suy ngẫm. Trong đời thơ của mình, Thanh Tùng đi nhiều nơi, viết về nhiều miền đất khác nhau nhưng thành phố Hải Phòng của một thời hoa đỏ vẫn là miền thi ca giàu chất sống lãng mạn dữ dội, ký thác tâm tưởng nhiều nhất với ông. Cũng như Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơ Hữu Thỉnh chia sẻ: “Hay nhất, kết tinh đẹp đẽ nhất mảng thơ tình Thanh Tùng là “Thời hoa đỏ”. Tập thơ “Còn đây một thời hoa đỏ” như căn cứ vững chắc để khẳng định Thanh Tùng là nhà thơ hàng đầu trong lớp các nhà thơ thời chống Mỹ”.