Công nghiệp Việt Nam: "Đa nhưng không tinh"

11/03/2017 11:15

Quá nhiều mũi nhọn

Công nghiệp Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế về tỷ lệ nội địa hóa và phát triển những ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh.

Ảnh: bnews.vn

Từ khi Việt Nam gia nhập WTO, chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội, về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và phát triển công nghiệp nói riêng liên tục được bổ sung, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh tình hình mới.

Trên cơ sở đường lối của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành thể chế hóa thành khoảng 300 văn bản quy phạm pháp luật bao quát khá đầy đủ các nội dung có liên quan đến chính sách công nghiệp quốc gia.

Theo ông Nguyễn Văn Bình, Trưởng ban Kinh tế Trung ương, các chính sách chung và chính sách ngành trong lĩnh vực công nghiệp được ban hành trong thời gian qua có tác động tích cực đến sự phát triển của công nghiệp Việt Nam hơn 30 năm đổi mới, nhất là trong 10 năm trở lại đây.

Cụ thể, giá trị sản xuất công nghiệp và giá trị gia tăng công nghiệp tăng trưởng liên tục trong nhiều năm. Từ 2006-2015, tổng giá trị sản xuất công nghiệp tăng 3,42 lần, tỉ trọng GDP công nghiệp cũng duy trì ổn định khoảng 31-32%/tổng GDP cả nước. Tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp trong giai đoạn này bình quân đạt 6,9%/năm…

Tuy nhiên, theo ông Bình, bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình phát triển công nghiệp đất nước cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Điển hình như: công nghiệp đang ở trình độ thấp, chủ yếu phát triển theo chiều rộng, nội lực còn yếu, phụ thuộc nhiều vào doanh nghiệp FDI, sự liên kết giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước hạn chế.

Năng suất lao động công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến chế tạo còn ở mức thấp. Tốc độ tăng năng suất lao động của ngành công nghiệp giai đoạn 2006-2015 khoảng 2,4%/năm, tốc độ tăng chậm hơn tốc độ tăng bình quân chung của nền kinh tế là 3,9%/năm.

So với quốc gia trong khu vực, năng suất lao động công nghiệp của Việt Nam, nhất là năng suất lao động ngành công nghiệp chế biến chế tạo còn thấp (Malaysia có mức năng suất lao động ngành công nghiệp chế biến chế tạo cao gấp 6,4 lần, Thái Lan cao gấp 6,4 lần, Philippines cao gấp 3,4 lần).

Giải quyết tình trạng“đa nhưng không tinh”

Tại hội thảo, nhiều chuyên gia cho rằng, tình trạng nhiều chính sách, nhưng thiếu hiệu quả đang khiến các doanh nghiệp và ngành công nghiệp Việt Nam chưa thực sự vươn lên mạnh mẽ. Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, Việt Nam cần tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư, xác định rõ vai trò của các thành phần kinh tế trong phát triển công nghiệp để định hướng chính sách phát triển phù hợp.

Theo ông Vũ Thành Tự Anh, Trường đại học Fulbright Việt Nam, vấn đề chính không phải là nên hay không nên có chính sách công nghiệp ưu tiên, mà vấn đề là nên có chính sách công nghiệp ưu tiên như thế nào.

“Việt Nam không nên theo đuổi chính sách ưu tiên một số sản phẩm công nghiệp cá biệt như hiện nay, thay vào đó Chính phủ nên thực thi chính sách ưu tiên phát triển một số “lĩnh vực năng lực” phù hợp với mục tiêu và chiến lược phát triển dài hạn của đất nước”, ông Tự Anh nói.

Đồng tình với quan điểm này, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải khẳng định, công nghiệp Việt Nam cần một hệ thống chính sách đồng bộ và hiệu quả. Thực tiễn cho thấy, chúng ta không thiếu chính sách, nhưng dường như ngoài một số ít chính sách có hiệu quả, có tác động thì nhiều chính sách ban hành chưa kịp thời và ít tác dụng.

Vì thế, giải pháp trong thời gian tới là cần đổi mới tư duy khi xây dựng chính sách, thay vì chỉ tiếp cận theo hướng “đưa chính sách vào cuộc sống” cần kết hợp đồng bộ với “đưa cuộc sống vào chính sách”, trên cơ sở các định hướng và mục tiêu phát triển trong từng giai đoạn, xuất phát từ những đòi hỏi của cuộc sống để ban hành chính sách cho phù hợp. Các ưu i đề xuất cần phải được cân nhắc kỹ, căn cứ vào nguồn lực, để sau khi ban hành, chính sách có thể triển khai được.

Thứ trưởng Bộ Công Thương gợi ý về cơ chế chính sách tập trung giải quyết tình trạng “đa nhưng không tinh” của các sản phẩm chế biến. Cụ thể, trong lĩnh vực đầu tư, không đầu tư dàn trải vào tất cả các ngành, các lĩnh vực mà tập trung tối đa vào một số ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu nhằm thúc đẩy tăng trưởng, xây dựng thương hiệu mạnh và chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong và ngoài nước…

Theo các chia sẻ tại hội thảo, kinh nghiệm của các nước trên thế giới có nhiều thành công như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Thái Lan cho thấy, quá trình phát triển công nghiệp của các họ đều theo các giai đoạn tuần tự, phát triển những ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, trong đó ngành cơ khí chính xác có vai trò quan trọng đối với mọi nền công nghiệp.

Nhiều chính sách công nghiệp thành công đều tạo ra mội môi trường thuận lợi để thúc đẩy các ngành công nghiệp phát triển theo định hướng trên cơ sở phân bố các nguồn lực hợp lý, theo cơ chế thị trường, dựa trên các trụ cột về khoa học công nghệ và nguồn nhân lực.

Đức Dũng

(0) Bình luận
Công nghiệp Việt Nam: "Đa nhưng không tinh"