(HPĐT)- Qua 75 năm với 14 nhiệm kỳ, Quốc hội Việt Nam không ngừng lớn mạnh, đổi mới và phát triển cả về tổ chức và hoạt động, cùng đất nước nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Từ Quốc hội khóa 1 đến Quốc hội khóa 14, dù ở mỗi thời điểm, hoàn cảnh lịch sử khác nhau, nhưng mỗi nhiệm kỳ của Quốc hội đều có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng chung của đất nước, của nhân dân. Qua đó ngày càng khẳng định Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

Các thành viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội giám sát tại Cục Hải quan Hải Phòng.
“Quốc hội hết lòng vì dân, vì nước…”
Cách đây 75 năm, lịch sử dân tộc Việt Nam chứng kiến sự kiện trọng đại: Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam. Đến nay, Quốc hội Việt Nam trải qua 14 nhiệm kỳ hoạt động. Mỗi nhiệm kỳ đánh dấu những bước phát triển của Quốc hội Việt Nam. Trong đó, nhiệm kỳ hoạt động dài nhất là Quốc hội khóa 1 (1946- 1960), ngắn nhất là Quốc hội khóa 5 (1975- 1976); có kỳ họp dài 40 ngày; có kỳ họp diễn ra trong 4 giờ đồng hồ, nhưng quyết định nhiều vấn đề trọng đại của đất nước…
Trong đó, Quốc hội khóa 1 thông qua bản Hiến pháp năm 1946- Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, đánh dấu thắng lợi lịch sử giành được trong Cách mạng Tháng Tám. Đây là bản Hiến pháp dân chủ, tiến bộ, là đạo luật cơ bản đặt nền móng xây dựng thể chế Nhà nước cách mạng trong thời đại mới cũng như thực hiện công cuộc kháng chiến kiến quốc, đưa kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn. Đây cũng là minh chứng hùng hồn về niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào tinh thần yêu nước của nhân dân ta.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước vô cùng ác liệt, với tinh thần tất cả cho tiền tuyến, Quốc hội ban hành Hiến pháp năm 1959, tạo nền tảng pháp lý xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30-4-1975), đất nước thống nhất, diễn ra cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội khóa 6- Quốc hội chung của cả nước. Quốc hội thông qua bản Hiến pháp năm 1980. Sự kiện lịch sử có ý nghĩa trọng đại này mở đầu bước phát triển mới trong quá trình đi lên CNXH của nước ta. Những quyết sách của Quốc hội khóa 7, khóa 8 cụ thể hóa đường lối đổi mới toàn diện do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, góp phần quan trọng đưa đất nước vượt qua những khó khăn, thách thức nghiêm trọng về kinh tế-xã hội. Thành tựu nổi bật của Quốc hội khóa 8 là thông qua bản Hiến pháp năm 1992- Hiến pháp của thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước.
Hoạt động hiệu lực, hiệu quả cao
Quốc hội khóa 9, khóa 10 là Quốc hội của thời kỳ đổi mới, tiến hành sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 để tạo cơ sở pháp lý kiện toàn bộ máy Nhà nước. Quốc hội khóa 11 có những đổi mới quan trọng. Đây là nhiệm kỳ số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách tăng lên và lần đầu được quy định rõ trong Luật Tổ chức Quốc hội (25% số đại biểu Quốc hội). Quy trình xây dựng pháp luật được đổi mới để nâng cao chất lượng các luật. Hoạt động giám sát từng bước được cải tiến, đổi mới để tăng cường hiệu lực, hiệu quả.
Quốc hội khóa 12 và 13 không ngừng tăng cường đổi mới về phương thức và nội dung hoạt động, hoàn thiện về cơ cấu tổ chức, các cơ quan của Quốc hội. Thành tựu lớn nhất của Quốc hội khóa 13 là thông qua Hiến pháp năm 2013. Quốc hội khóa 13 cũng đánh dấu mốc lịch sử khi lần đầu tiên trong gần 70 năm hoạt động, Quốc hội tiến hành lấy phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.
Quốc hội khóa 14 có số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách đạt tỷ lệ 34,9%, cao nhất trong các nhiệm kỳ Quốc hội. Tại kỳ họp thứ 9 (Quốc hội khóa 14), lần đầu trong lịch sử tổ chức các kỳ họp, Quốc hội họp theo hình thức kết hợp giữa họp trực tuyến và họp tập trung…
Qua 75 năm, hoạt động của Quốc hội ngày càng phát huy hiệu quả, nâng cao chất lượng trong cả công tác lập pháp, công tác giám sát và quyết định những vấn đề lớn, hệ trọng của đất nước, trong đó có các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đó, hoạt động ngoại giao nghị viện được đẩy mạnh, góp phần phát huy vai trò, vị thế của Quốc hội Việt Nam nói riêng, đất nước Việt Nam nói chung trên trường quốc tế.
Để tiếp tục phát huy vị trí, vai trò của Quốc hội trong giai đoạn phát triển mới, Quốc hội, các cơ quan Quốc hội và ĐBHQ tiếp tục đẩy mạnh hoạt động lập pháp; tăng cường năng lực lập pháp của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và các ĐBQH, đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng các dự án luật. Trong đó, tiếp tục đổi mới quy trình lập pháp, bảo đảm tiến độ và chất lượng chuẩn bị dự án luật ngay từ những công đoạn đầu, coi trọng xác định nội dung chính sách luật trước khi tiến hành các bước tiếp theo trong quy trình lập pháp.
Quốc hội tiếp tục nâng cao hiệu quả giám sát, đổi mới mạnh mẽ phương thức tiến hành, khắc phục tình trạng giám sát dàn trải, thiếu chiều sâu; tập trung giám sát những vấn đề nhân dân và cử tri bức xúc trong đời sống kinh tế- xã hội…Đổi mới phương thức hoạt động của Quốc hội, chuyển hình thức làm việc của Quốc hội từ tham luận sang tranh luận; nâng cao hơn nữa chất lượng đại biểu Quốc hội; chủ động và tích cực triển khai hoạt động đối ngoại của Quốc hội, góp phần thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế của Đảng và nhà nước, góp phần thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
Minh Khôi - Ảnh: Minh TúTHÀNH TỰU LẬP PHÁP NỔI BẬT CỦA QUỐC HỘI QUA CÁC NHIỆM KỲ:
- Quốc hội khoá 1, tổ chức 12 kỳ họp, thông qua Hiến pháp năm 1946 và năm 1959, thông qua 16 luật và ban hành 50 nghị quyết.
- Quốc hội khoá 2, có 8 kỳ họp và thông qua 6 luật; Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành 9 pháp lệnh.
- Quốc hội khoá 3, 4 và 5 thông qua nhiều vấn đề trọng đại của đất nước, phục vụ sự nghiệp xây dựng miền Bắc XHCN và kháng chiến chống đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước.
- Quốc hội khoá 6, thông qua Hiến pháp 1980.
- Quốc hội khoá 7, ban hành 10 luật và 35 nghị quyết.
- Quốc hội khoá 8, ban hành 27 luật, bộ luật và 39 pháp lệnh.
- Quốc hội khoá 9, ban hành 36 luật, bộ luật.
- Quốc hội khoá 10, ban hành 32 luật, bộ luật và 39 pháp lệnh.
- Quốc hội khoá 11, ban hành 84 luật, bộ luật và 31 pháp lệnh.
- Quốc hội khoá 12, ban hành 68 luật, 19 nghị quyết và 13 pháp lệnh.
- Quốc hội khoá 13, ban hành 100 luật, bộ luật và 10 pháp lệnh. Thông qua Hiến pháp 2013.
- Quốc hội khoá 14, ban hành 65 luật và 99 nghị quyết.