
Bến Cầu ơi miền đất Ngũ Long
Có gì lạ không, mà xuân đã bồn chồn
Lối ra Mộc Bài thênh thang Xuyên Á
Đường vào Tiên Thuận sông dài miên man.
CÓ một nhà thơ Tây Ninh đã viết như thế về miền đất Ngũ Long trên đất Tây Ninh. Và, Tây Ninh lại được người Nam bộ vinh danh là miền quê “núi Điện, sông Vàm”. Cũng giống như cố đô Huế là miền “sông Hương, núi Ngự”, hay Quảng Ngãi là miền “núi Ấn, sông Trà” vậy!
Nhà thơ Bùi Giáng từng có thơ: “Dạ thưa xứ Huế bây giờ/ Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương”. Thì Tây Ninh cũng có ca dao: “Tây Ninh có núi Điện Bà/ Có sông Vàm Cỏ có tòa Cao Sơn”. Núi Điện ở đây chính là núi Bà Đen, đột khởi mọc giữa đồng bằng lên cao gần 1 km. Trên núi có điện thờ bà Linh Sơn thánh mẫu, nên còn gọi là núi Điện Bà. Sách “Đại Nam Nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn có chép: “Núi Bà Đinh đất đá cao chót vót, cây cối um tùm, nước ngọt, đất màu, trên núi có chùa Linh Sơn, chân núi sát với hồ chằm, cảnh trí đẹp đẽ, rừng hố hiểm sâu, thôn xóm người Hoa, người Man, dân nhờ mối lợi núi rừng, thỉnh thoảng có người nhặt được cổ khí bằng đồng bằng đá. Tương truyền trong hồ có thấy chiếc chiêng đồng, giống như việc “khánh nổi ở bến sông Tứ” và việc “được chuông ở sông Trường Giang” nhưng đến gần thì biến mất. Lại có khi giữa đêm thanh vắng thấy thuyền rồng lênh đênh, múa hát du dương, có rùa vàng nổi chìm, lớn chừng hơn một trượng. Đó là do khí thiêng đúc kết, không phải là việc quái đản. Núi còn có tên nữa là núi Điện Bà, năm Tự Đức thứ 3 (1850) đổi tên gọi hiện nay (Linh Sơn) ghi vào điển thờ…”. Còn sông Vàm? Thì chính là dòng sông Vàm Cỏ Đông chảy miệt mài giữa đất Tây Ninh qua hầu hết các huyện thị trong tỉnh.
Thôi, chuyện núi sông xin tạm khép. Còn bây giờ là chuyện miền đất Ngũ Long của quê hương núi Điện, sông Vàm. Cái tên sang trọng này cũng đã có từ xưa, có lẽ vào thời lưu dân đi mở đất lập thôn làng. Bởi các cụ ở các xã Long Giang, Long Chữ hiện nay đều kể lại rằng, các cụ nội, cụ cố nhà mình đều nhắc nhở con cháu ghi nhớ cái tên đáng tự hào của quê hương bản quán. Ngũ Long ở đây là tên của 5 xã (thôn) xưa thuộc tổng Giai Hóa, còn nay thuộc huyện biên giới Bến Cầu. Huyện có cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, nhộn nhịp nhất trong các cửa khẩu quốc tế ở phía Nam đất nước.
Mà lạ nhé! Rà lại các trang sử viết về Tây Ninh, trong những tổng đầu tiên có vào năm thành lập phủ Tây Ninh (1836), các tổng khác đều lấy chữ Ninh (trong Tây Ninh) làm tên. Như tổng Hàm Ninh, tổng Hòa Ninh và tổng Mỹ Ninh. Chỉ có hai tổng Giai Hóa và Triêm Hóa là không tuân theo quy luật ấy. Sách “Đại Nam Thực lục” của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi về sự kiện lập phủ Tây Ninh vào tháng 7 (âm lịch) năm Minh Mạng thứ 17 (1836) như sau: “Nay đổi đặt đồn Xỉ Khê làm huyện Tân Ninh, đạo Quang Hóa làm huyện Quang Hóa, gọi thành Quang Hóa là huyện thành. Lại đặt phủ Tây Ninh kiêm lý huyện Tân Ninh…”. Tổng Giai Hóa và Triêm Hóa lại thuộc huyện Quang Hóa. Vậy thì việc đặt tên vẫn theo quy luật trên, nhưng lấy chữ Hóa làm đầu. Là Hóa trong tên của huyện thành Quang Hóa.
Đến Tây Ninh hôm nay, du khách không còn nghe thấy địa danh nào mang tên “Hóa”. Nhưng trong lịch sử hơn 30 năm của miền đất này, chữ Hóa xưa từng vang dội lắm. Thành Quang Hóa nay trên đất xã Cẩm Giang, huyện Gò Dầu chỉ mới được xây năm 1824 dưới triều vua Minh Mạng. Nhưng rừng Quang Hóa đã được các chúa Nguyễn chú trọng khai thác từ lâu. Trong những ghi chép của quan Hiệp Tổng trấn thành Gia Định Trịnh Hoài Đức vào trước năm 1820 thì: “Quang Hóa lâm, ở phía cực tây của trấn, gò núi trùng điệp, rừng rú liên miên cây cối cao to, đứng thẳng chọc trời che kín mặt đất chừng vài trăm dặm. Ở đây có gỗ đóng ghe thuyền, nên thợ rừng, thợ mộc dựng lều để ở, đốn cây lấy gỗ, làm than, lấy dầu rái, mây, song và săn bắt cầm thú như tê, voi, hươu nai, trâu rừng, ngựa rừng để lấy sừng, nanh, lông thú, lông chim, phơi khô da, thịt, thu lợi rất nhiều…” (sách “Gia Định thành thông chí”, bản dịch của Phạm Hoàng Quân, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2019). Phía cực Tây của trấn, trấn ở đây là trấn Phiên An tức Gia Định thành bao gồm phần lớn đất miền Đông Nam bộ ngày nay.
Phía cực Tây chính là phần hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông, lúc ấy còn gọi là sông Quang Hóa. Phạm Hoàng Quân chỉ có một sai sót nhỏ! Ông mở ngoặc đơn với ghi chú đây là rừng Lò Gò - Xa Mát. Trên thực tế đó là cả một dải rừng già ở phía phải dòng sông, kéo dài từ Trảng Bàng, qua Bến Cầu, Châu Thành lên tới Tân Biên (nơi có vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát). Dưới thời chúa Nguyễn Ánh, rừng là nơi Chúa triệt để khai thác các mối lợi đã phục vụ cho cuộc bình định miền Nam. Sách “Đại Nam thực lục tiền” biên ghi chép chuyện lấy gỗ rừng Quang Hóa làm thuyền đi biển là từ năm 1778. Sách “Gia Định thành thông chí” cũng chép chuyện Phương Quận công Đỗ Thành Nhơn chỉ huy lên khai thác gỗ rừng vào năm 1780. Khi ấy: “Ở miền Quang Hóa có cây sao già cỗi, ban đêm trên ngọn cây thường thấy lửa sáng như hình hai ngọn đèn. Người ở miền núi kinh sợ phải lánh xa, cho nên nó cao hơn không cây nào bằng. Khi ấy, quan quân chợt thấy, lấy rìu búa bổ vào, lập tức hộc máu chết. Từ đó người ta truyền bảo nhau răn sợ không dám đụng đến… Phương Quận công là Đỗ Thanh Nhơn truyền lệnh tiễn, đốc phải chặt lấy được, người nào sợ tránh thì lấy quân pháp trị ngay. Mọi người sợ, tuân lệnh tướng, rồi chặt xuống được. chợt thấy lửa rực lên, nổ một tiếng rồi bay đi, trông như tấm vải trắng. Thân cây gỗ nhựa chảy thấm ướt như máu…”. Chẳng biết có phải đây là điềm xấu báo trước cho Phương Quận công hay không, khi một năm sau ông phạm trọng tội bị Nguyễn Ánh xử tử?
Đến năm 1841 (Thiệu Trị năm thứ nhất), tổng Giai Hóa mới được thiết lập trên phần đất hữu ngạn sông Vàm, xưa là rừng Quang Hóa. Tổng có 5 thôn, đến khi quan Tuyên phủ sứ Tây Ninh Cao Hữu Dực lập thêm 2 thôn nữa, là 7. Nhưng coi tên 7 thôn này vẫn chỉ có 4 “Long”. Là: Long Chữ, Long Giang, Long Khánh và Long Thuận. Phải đến thời Pháp thuộc, sau nhiều chia tách, biến động,vào năm 1877 tổng Giai Hóa mới đủ 9 thôn trong đó có 5 thôn có chữ Long. Ngoài 4 “Long” kể trên còn thêm thôn Long Vĩnh. Vậy là có thể từ đây, miền đất này mới mang tên là vùng đất Ngũ Long. Đến nay, sau gần 150 năm, thì những tên thôn làng ấy vẫn còn. Là các xã Long Khánh, Long Giang, Long Thuận và Long Chữ thuộc huyện Bến Cầu. Riêng xã Long Vĩnh thuộc huyện Châu Thành. Dù khác huyện, các xã miền Ngũ Long ấy vẫn liền kề bên nhau trên hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông, ở một khúc sông có dáng rồng bay đẹp nhất!
Ôi, miền đất Ngũ Long! Nếu như ở núi Bà Đen lễ hội Xuân vẫn còn đậm chất tâm linh và có phần phô trương, hoa mỹ, thì mùa xuân ở Ngũ Long lại có vẻ thâm trầm u tịch giữa thiên nhiên đầy ắp sự phồn sinh. Đến cả bụi hoa mua trên đường bờ ruộng ra dinh Quan lớn Vàm Bảo thờ Huỳnh Công Nghệ, cũng tràn đầy tươi thắm. Đến hoa mua ở vườn Quốc gia Lò Gò- Xa Mát cũng chẳng đẹp bằng. Tương truyền, Huỳnh Công Nghệ là một trong những người “dân ấp dân lân” đầu tiên đến Tây Ninh khai cơ mở đất. Người ta bảo sau khi mất (1788), hồn thiêng ông nhập vào một gốc cây, cứ dùng dằng trôi qua trôi lại trước bên sông trên dòng rạch Bảo này. Vậy là dân vớt lên, lập ngôi đình thờ còn đến ngày nay. Và trên miền đất Ngũ Long, nhiều ngôi đình miếu cũng chẳng đợi sắc vua ban, mà tự lập đền miếu thờ các vị có công với làng với nước. Như đình Long Giang và miếu ở thành bảo Long Giang thờ Lãnh binh Két. Đình Long Khánh thờ cụ Trần Văn Thiện. Đình Long Chữ thờ Huỳnh Công Thắng - tướng quân từng chỉ huy thành Quang Hóa ngày xưa…
Không chỉ chuyện các thời đã qua, mà ngay cả thời hiện đại miền đất Ngũ Long cũng làm nên chuyện lớn. Đấy là những “hạt giống đỏ” đầu tiên của Đảng Cộng sản cũng được gieo trên đất Giồng Nần, thuộc xã Long Vĩnh ngay từ năm 1930, do đồng chí Võ Văn Lợi từ Hóc Môn đem đến. Và đến năm 1931, chi bộ Đảng đầu tiên ở Tây Ninh được thành lập trên miền đất Ngũ Long. Để từ đây, Đảng bộ Tây Ninh phát triển, lãnh đạo người Tây Ninh chiến thắng mọi giặc ngoại xâm.
Ngày nay, chỉ cần đi theo trục đường tỉnh 786, qua lối cầu Gò Chai, là sẽ được đi qua hết 5 xã miền Ngũ Long. Như nhà thơ cảm nhận ở Ngũ Long, mùa xuân đến sớm. Qua đây từ tháng 12, đã thấy những nhà phố 2 bên rực rỡ mai vàng. Nhiều nơi nhà cửa đã cao lên, lấp lánh kính nhôm nhưng vẫn thấy cơ bản là một màu xanh vĩnh cửu của thiên nhiên được con người siêng năng chăm chút. Là lúa, là ngô, là thuốc lá vàng… Cả không gian sực nức mùi thơm của lúa trổ đòng đòng, lấp lánh rơi những lá vàng của vườn cây Giá tỵ trước thềm đình Long Chữ bên trong trầm mặc ánh vàng son. Cả những ngôi chùa cổ nữa. Như Long Thọ, Long Bửu hay dinh Ông, đình Bà… Tháng Chạp, tháng Giêng là ngào ngạt khói nhang. Để người nay tưởng nhớ đến biết bao thế hệ tiền nhân đã xây đắp nên miền đất Ngũ Long huyền thoại.
Nhà thơ NGUYỄN QUỐC VIỆT (Tỉnh Tây Ninh)