(HPĐT)- Tháng Bảy về, tháng của niềm tự hào, tri ân sâu sắc... Không chỉ là khoảng thời gian để hồi tưởng về một thời bom đạn khốc liệt, đây còn là dịp để thế hệ hôm nay lắng lại, dành một khoảng lặng tưởng nhớ những người ngã xuống, để đất nước ta “nở hoa độc lập, kết trái tự do”. Từ chính mạch nguồn tri ân ấy, những vần thơ trong chùm thơ này được viết nên bằng tất cả sự biết ơn, tha thiết, chân thành và giàu xúc cảm.

Tìm đồng đội
Lê Việt Hùng
Chúng tôi ngược lên biên giới
dấu đạn nham nhở còn đậm hình hài
bước chân người sau đặt vào vết chân người trước
sợ làm đau ngọn cỏ sớm mai.
Ký ức xưa chưa nhạt phai
những người lính một thời trai trẻ
nhân chứng cuộc chiến kéo dài
đất trời Vị Xuyên ngút ngàn đạn lửa…
Chúng tôi trở lại đây
đi bên nhau thầm lặng
dưới chân đá hóa thành vôi trắng
đã thấy mầm xanh phủ kín thung khe.
Nói với nhau khe khẽ
vạch từng lùm cây bên vách chiến hào
vén từng lớp đất sâu Thanh Thủy
gọi tên đồng đội ơi!
Sáng đội nắng chiều dầm mưa
những người lính già lặng lẽ
tìm đồng đội đã nằm lại đất này
bờ môi mặn chát dòng lệ.
Hơn bốn mươi năm khắc lời thề đá
khắc khoải trong tim người ở lại
nước sông Lô ngày đêm không ngừng chảy
Quốc kỳ hồng thắp sáng dải biên cương.
Vào Thành Cổ tìm anh
Trịnh Toại
Lá buồn trút sợi heo may
Chị đi tìm lại tháng ngày yêu anh
Lần theo dấu tích “Cổ Thành”
Theo làn hương khói, cỏ xanh nghẹn ngào.
Một đời cháy bỏng khát khao
Giặc tan, thỏa nỗi cồn cào nhớ mong...
Dòng Thạch Hãn sóng bềnh bồng
Các anh nằm dưới đáy sông ảo mờ.
Đêm ngày em vẫn hằng mơ
Anh về nối lại đôi bờ cách ngăn
Nỗi đau vò rối ruột tằm
Em đau chẳng thể sánh bằng mẹ đau.
Đời cha sương gió dãi dầu
Nhớ thương mãi mãi ngàn sau khóc thầm
Đông về giá rét căm căm
Anh nằm dưới cỏ ướt đầm mắt sương.
Ký ức người lính
Chung Vinh
Anh hy sinh mẹ chưa sinh em ra
Cả họ khóc, cả nhà ta đều khóc
30 năm anh không riêng phần mộ
Mẹ vẫn âm thầm ngày giỗ gọi tên anh
30 năm biển vẫn biếc xanh
Biển vẫn ôm anh và con tàu không số
Em là người lính Hải quân vượt muôn trùng sóng vỗ
Vẫn đi tìm anh trong từng bước sóng trường.
Tổ quốc ghi công Anh
Vũ Đăng Bút
Nước nhà thống nhất đã lâu.
Mà Anh (*) vẫn ở nơi đâu chưa về?
Ngày nào ở chiến trường B
Lá thư Anh viết gửi về mẹ cha.
Trường Sơn dằng dặc đường xa.
Lá thư nhàu nát, mực nhoà nắng mưa.
Đọc thư Anh kể say sưa.
Chiến trường đâu kể đêm, trưa, sáng, chiều.
Đặc công - người lính tiền tiêu.
Châm lên ngọn lửa nhằm thiêu quân thù.
Đồng bằng, miền núi, trung du.
Bốt đồn giặc dựng được thu hẹp dần.
Miền Nam giải phóng đến gần.
Anh chờ gặp lại người thân của mình...
Bao năm đất nước hòa bình.
Nhà ta chỉ vắng một mình Anh thôi.
Tổ quốc ghi công Anh rồi
Anh hùng liệt sĩ - Đời đời nhớ ơn!
-----------------
(*) Bài thơ thay cho nén nhang tri ân và tưởng nhớ liệt sĩ Đào Quang Thụ, quê An Khoái, xã Tứ Cường, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương (cũ), hy sinh 1972, tại Mặt trận B3 Tây Nguyên.
Kỷ vật nơi bảo tàng
Đào Thanh Nghị
Chiếc khăn tay nhỏ xinh xinh
Góc trên, bên phải thêu hình đôi chim
Khéo thay mũi chỉ, đường kim
Lồng vào chính giữa trái tim tươi hồng.
Tình người con gái xứ Đông
Trao anh lính trẻ chờ mong ngày về
Tấm lòng mộc mạc chân quê
Thay lời nguyện ước, hẹn thề bên nhau...!
Tham gia mặt trận tuyến đầu
Đôi bờ Thạch Hãn quặn đau căm thù
Từ trong khói lửa mịt mù
Cỏ xanh Thành Cổ nghìn thu huy hoàng
Nghiêm trang đứng trước bảo tàng
Em nâng niu cả nắng vàng nơi đây
Ngỡ từ trong chiếc khăn tay
Thấy hình anh giữa những ngày năm xưa.
Bạc màu lửa đạn, nắng mưa
Khăn thành kỷ vật sớm trưa dâng đời
Bỗng hàng nước mắt tuôn rơi
Nao nao em nhớ một thời thanh xuân.