(HPĐT)- Kiếm một nguyên cớ đi công tác rồi về thăm bạn cũ, để rồi đặc tả về một cánh đồng hoang với những người sống bằng nghề mót lúa ma, tác giả khéo léo khi cho người đọc thưởng thức thước phim bằng ngôn từ sống động và độc đáo. Nhưng nếu chỉ là câu chuyện mót lúa thì e hơi giống “phim tài liệu”, tác giả không chỉ dừng lại ở đó mà nâng lên thành “phim truyện” với chi tiết cuối khi ngôi miếu thờ Thần lúa ma hiện ra. Ý tưởng sâu sắc của truyện lúc này được bộc lộ: Ở nơi cánh đồng hoang vu nhất lại là chỗ mà lòng người trở nên ấm áp nhất. Truyện không chỉ độc đáo với những chất liệu không dễ gặp trong các trang văn nói chung mà còn thấm đẫm lòng nhân ái. Nhà văn từng được tặng giải thưởng Mê Kông Nguyễn Quốc Trung, tuy đã gần bước vào tuổi “thất thập” nhưng chưa hề giảm bút lực, nhất là khi ngòi bút của ông chạm đến những vấn đề đầy tính nhân văn như thế này. (Nhà văn Nguyễn Đình Tú)

Mùi cơm thơm nức đánh thức tôi, ngó đồng hồ điện thoại mới hơn hai giờ rưỡi sáng. Dưới ánh sáng vàng mơ của bóng đèn tròn lấy điện từ bình ắc quy đã thấy mâm cơm vừa được cô Diễm dọn ra trước thềm. Hương thơm đặc trưng cơm lúa ma nồng lên ấm áp trong tiết trời khuya cuối năm hơi se lạnh. Cường đã chuẩn bị xong đồ gặt đang ngồi ở ghế đá đợi tôi dùng điểm tâm đầu ngày.
Bữa ăn sáng trong ánh điện úa vàng. Cơm lúa ma nấu trong nồi đất, úp lá sen rồi đậy vung kín, nóng hổi, ăn với cá rô mề kho tộ vừa bưng cả cái nồi đất từ bếp lửa xuống đang sôi lèo xèo, cùng món rau tập tàng luộc chấm khô quẹt, ngon hết biết. Với tôi, dùng bữa sáng vào lúc này là trái bụng, nhưng vợ chồng chủ nhà đã quen nên ăn uống ngon lành. Anh bạn Cường của tôi thời là cán bộ nhà nước bữa sáng thường là tô hủ tiếu nhỏ hay cái bánh mì lưỡi heo kẹp lát giò nạc lưỡi mèo, vậy mà giờ đây chén liền hai tô cơm đầy có ngọn. Tôi hiểu làm đồng phải ăn thế mới đủ sức chứ không như người dài lưng ngồi bàn giấy như mình. Giờ đây, sau nhiều năm về xứ Tràm Sếu này Cường đã là một người chắc khỏe, da bánh mật, móng tay, móng chân vàng khè do phèn đóng. Riêng đôi mắt Cường vẫn thế, luôn nhìn thẳng và tràn đầy sự ấm nóng.
Cường dạt về xứ này âu cũng là sự lựa chọn không dễ dàng gì. Tốt nghiệp đại học trên thành phố, Cường từng nhận công tác ở Sở Tài nguyên- Môi trường tỉnh. Khi đó tôi làm báo, thỉnh thoảng có gặp Cường trong những chuyến công tác đi xác định lại địa giới huyện. Hợp tính nhau nên chơi với nhau, rồi thành thân thiết lúc nào không biết. Bỗng vụ án liên quan đến đền bù đất đai của mấy doanh nghiệp bất động sản nổ ra. Cường bị Công an gọi lên gọi xuống mấy lần. May là Cường không có tên trong danh sách khởi tố bị can. Nhưng sau đận đó thấy Cường ít nói hẳn. Rồi một hôm Cường đến gặp tôi chào về quê. Tôi không muốn gặng hỏi lý do, chỉ dúi cho Cương ít tiền lộ phí, từ đó bẵng đi gần chục năm chưa gặp lại nhau.
Lần này tôi về quê Cường viết bài. Đó là nơi đồng sâu hoang dã, có rừng tràm và loại sếu đầu đỏ. Tôi nhớ tới Cường. Và tìm đến thăm anh.
Hai vợ chồng Cường rất vui, cứ hỏi tôi muốn ăn món gì để họ kiếm về nhậu. Tôi nói chỉ thích lang thang cánh đồng hoang. Thế là đêm nay tôi phải dậy sớm cùng họ.
Bữa sáng kết thúc nhanh để ra đồng cho kịp thời gian hột lúa chín đang ở trên bông, chớ hễ nắng lên là rụng liền. Cường xách đôi cây tầm vông đá nhỏ như cây trúc, dài hơn hai mét, Diễm xách cái giỏ cói đựng nước uống, đồ ăn vặt, đi nhanh ra bến kênh trước nhà, lên chiếc xuồng ba ván, đã trang bị dụng cụ thu hoạch lúa ma. Tôi được ngồi ở phía sau để xem gặt lúa ma. Trời đêm còn đặc quánh nhưng do vợ chồng nhà này quá thông thuộc đường nên lái chiếc xuồng lao nhanh trên dòng kênh cho dù không thấy dòng nước. Không gian im lặng đế rợn người, thỉnh thoảng tiếng vạc ăn đêm thảy ra tiếng kêu thác thốt giữa không trung tráng màn đêm tối đến nhức mắt. Nghe đồn, những đêm mưa phất phất, người gặt lúa ma đêm thường thấy hai đốm sáng xanh, khi đến gần thấy hai bóng người, chập chờn di chuyển trên đồng. Tương truyền đó là linh hồn đôi vợ chồng nghèo chuyên đi mót lúa trời nuôi đàn con thơ dại. Một đêm khuya chẳng may bị con cá sấu hung dữ táp dải tóc dài người vợ lôi xuống ruộng sâu, người chồng liền nhảy xuống đánh lộn với sấu cứu vợ rồi cả hai bị con sấu hung dữ cắn chết. Lại có chuyện một người đàn ông độc thân mải miết gặt lúa ma trong khuya nhiều lúc quay lại thấy người đàn bà mặc áo trắng ngồi phía đuôi thuyền. Đó là vong hồn một người phụ nữ góa chồng đi mót lúa ma nuôi con thơ dại, một lần chẳng may thuyền ba lá bị lật, chết đuối. Những câu chuyện nhuốm màu liêu trai ấy khiến tôi có cảm giác không gian của cánh đồng hoang này càng thêm huyền bí. Từ đó chúng ta cũng hiểu thêm những số phận kiếm sống bằng nghề gặt mót lúa ma thời xưa.
Có phải lúa này mọc ở đồng hoang, chín vào đêm khuya, người gặt cũng phải thu hoạch trong đêm khuya nên gọi là lúa ma không? Cánh đồng lúa ở trong khu Tràm Sếu. Đây chính là khu bảo tồn giống lúa trời cùng giống sếu đầu đỏ quý hiếm. Lúa ma mọc tự nhiên, vào mùa nước lên, dâng cao, lúa cũng vươn cao hơn nước. Có khi cây lúa cao tới ba mét, sóng vỗ, bão đập cũng không gãy. Bông lúa ma to dài, khi hạt căng mẩy chuyển từ xanh sang vàng mơ, khi chín chuyển sang màu đen ánh lên màu than. Lá lúa ma dài khi lúa chắc hạt xoắn lại đen như tổ kiến tạo nên cánh đồng đen nhức. Hạt lúa ma to dài, đuôi có râu dài nhọn sắc túa lên khiến chim chóc khó mổ nổi.
Mùa nước lên, cánh đồng hoang mênh mông này là một thế giới sống động. Tiếng cá đớp hạt lúa ngâm nước đã rụng râu rộ lên đây đó. Từng đàn chim chao qua lại tìm mồi trên những ngọn lúa trải tới mút tầm mắt. Tít trên cao những con diều hâu sải cánh lượn lừ đừ rồi đột ngột lao bổ xuống quắp con mồi đã lọt vào tầm ngắm của nó. Trên ngọn cây đước, cây bần, mấy con chim bói cá xanh biếc, mỏ dài, đảo mắt tìm cá giữa mương nước đục. Trong đám cỏ, năn chen lẫn những vạt lúa ma có mấy con rái cá thân bê bết bùn đang ngụp lặn sục đuổi bắt cá. Trên dòng kênh nhỏ, từng đàn cá nhao lên đớp những con kiến cánh ngắn, bụng căng tròn màu mật ong vừa bị gió lay rớt từ trên cây xuống. Cá ăn kiến vậy nhưng chỉ ít lâu nữa nước cạn khô kiến lại ăn cá. Quy luật tự nhiên cứ xoay vòng như vậy tưởng đã có tự ngàn năm!
*
Chiếc xuồng gặt lúa ma đưa chúng tôi tiến sâu vào ruộng. Diễm chống xuồng, Cường ngồi trước điều khiển cần gạt. Gặt lúa ma khó hơn lúa thường bởi lúa ma mọc giữa ruộng lầy nước sâu xen lẫn cỏ, năn. Mỗi cây lúa ma trổ một bông và mỗi bông một đêm chỉ có vài ba hạt chín, nên không thể cắt cả bông mang về được. Người ta dùng hai thanh tre hoặc cây tầm vông loại nhỏ dài cỡ ba mét, phía sau neo vào thanh ngang, phía trước dòng bằng cái dây buộc vào cái giá treo cao để dễ dàng gạt qua, gạt lại. Giữa xuồng dựng cái mê bồ đan bằng tre, người ngồi sau ra sức kéo dây, cũng có thể thiết kế bàn đạp bằng chân, để hai thanh tre, cây tầm vông ấy gạt ngọn lúa vào, hạt lúa chín bắn ra, được tấm mê bồ chặn xuống lòng xuồng. Mỗi đêm vợ chồng nhà này thu được chừng mười giạ, một tháng cỡ một tấn thóc. Hạt lúa ma có cái đuôi dài, sắc nhọn nên khi đưa về phải ngâm nước một vài ngày cho rụng gai rồi mới đem phơi. Hạt lúa ma cũng không thể xay xát bằng máy mà phải giã thủ công. Gạo lúa ma hạt dài mây mẩy, thơm mùi sữa gạo, giá cao gấp ba, bốn lần gạo tám thơm, nàng hương. Ngoài việc nấu thành cơm, gạo lúa ma còn là nguyên liệu đắt giá để chế biến bánh đúc, bánh xèo. Hễ nói tới gạo lúa ma là người ta nghĩ ngay, đó là loại gạo dành cho người lắm tiền, nhưng không phải dễ kiếm. Cả đời ở đồng bằng sông Cửu Long nhưng đâu phải ai cũng được thưởng thức bữa cơm lúa ma.
Khu vực này có khoảng vài trăm công lúa ma nên không thể thu hoạch hết. Chim chóc khó có thể ăn hạt lúa ma vì bông lúa dài dựng thẳng lên, mỗi hạt có cái đuôi dài sắc tựa cái chông nhỏ, nhiều hạt xếp bên nhau tua tủa khiến chim chóc nhìn đã sợ. Phải đến lúc gặp nắng, hạt lúa ma mau chóng rớt xuống nước, cái gai rụng đi mới là món mồi ngon cho vô số loài cá, trong đó nhiều nhất là rô. Ở đây có rô phi mình vằn, rô cỏ thân ánh vàng, rô cơm nhỏ như ngón tay, mình căng trứng, rô mề to cỡ bàn tay béo mẩy như phết mỡ, rô chuối cau mình dài, thân hơi tròn. Chúng sinh sôi, nảy nở từng bầy nhờ vào hạt lúa ma. Mấy năm gần đây được tin đồn các loài cá ăn lúa ma chữa được bệnh cao huyết áp, tiểu đường, tránh được đột quỵ nên thương lái đổ về đây rất đông, nông dân đánh bắt được bao nhiêu họ mua bằng hết, không cần trả giá. Đồng lúa ma mênh mông, người ta chỉ thu hoạch được một phần nhỏ, số nhiều, những hạt chắc nhất, khi gặp ánh nắng rụng xuống, nhanh chóng chìm xuống đáy ruộng vùi vào bùn non. Tới khi nước cạn, hạn hán hạt lúa nằm im trong đất khô nẻ chờ tới năm sau khi tiếng sấm đầu mùa nổ vang trời mưa trút ào ào, nước bắt đầu dâng lên hạt lúa ma cũng nẩy mầm bật lẹ để vươn cao hơn nước. Rồi mùa gặt lúa ma lại đến. Sự sống ở đất này đã được sắp đặt từ thuở khai thiên lập địa cứ tuần hoàn như vậy.
Đi gặt lúa ma giữa cánh đồng hoang trong đêm tối chỉ nghe tiếng thanh tre đập bồm bộp vào tấm mê bồ. Nếu như chỉ một người trên thuyền thì khó chịu nổi trước cảnh hoang vắng của cánh đồng. Thông thường vợ chồng cùng gặt. Nhưng cũng không thể nói chuyện được trong đêm khuya khoắt. Đành im lặng mà gặt.
Mải gặt lúa ma giữa đêm tối, tới khi trông thấy đống lúa vun cao giữa khoang thuyền, ngẩng lên mới biết trời sáng tự lúc nào, ánh nắng bừng lên khiến cánh đồng rộng mênh mông. Cường gác cây tầm vông dọc xuồng. Vậy là xong buổi gặt. Cường lái xuồng ra dòng kênh để về nhà. Dọc đường, anh cất những cái trúm, lờ bắt cá đặt từ hôm trước. Những con cá rô, cá diếc tươi rói giãy đành đạch, những con cá lóc, cá trê trơn nhẫy trờn qua lại trong lờ. Cô Diễm hái rau dại, ngắt bông súng, ngó sen chuẩn bị bữa ăn trưa. Gia đình này sống như người nông dân thửa xa xưa, gặt lúa ma, bắt cá đồng, hái rau tập tàng.
Trên đường về, Cường cho xuồng cập vào một bến kênh, phía trên bờ là một cái miếu, tường xây bằng gạch táp lô không tô trát, mái lợp ngói đất đã xỉn màu. Thấy chúng tôi, một ông già mặc áo nâu sòng dài, đầu đội mũ lúp nâu, khuôn mặt bệu, từ trong miếu bước tới chào đón. Khi Cường giới thiệu tôi, ông cúi đầu hai bàn tay chắp lại vái vái, miệng dạ, dạ không ngớt.
Ông xăng xái dẫn chúng tôi dâng hương lên bàn thờ gỗ tràm, có mấy bát nhang. Cường cho biết đây là miếu thờ thần đã gieo trồng lúa ma, như là thành hoàng vậy. Người đi gặt lúa ma về thường ghé qua thắp nhang để cầu xin thần lúa ma phù hộ cho được bình an. “Tôi không đủ sức khỏe để đi gặt lúa ma như cậu Cường nên tôi xin được hằng ngày nhang khói thờ thần lúa ma”, người đàn ông mặc áo nâu nói với tôi vậy. Khi nói hai tay ông vẫn chắp trước ngực.
Khi lên xuồng về nhà, Cường cho tôi biết, ông già trông coi miếu thời trẻ từng là tay giang hồ cộm cán. Giờ hết thời, già yếu, sống nhờ vào sự thiện tâm của mọi người, sống nhờ vào cánh đồng hoang Tràm Sếu.
Tôi nói với Cường, ờ, cánh đồng thì hoang nhưng lòng người nơi đây vẫn luôn ấm áp khi hướng về nhau, Cường nhỉ?./.
Truyện ngắn của Nguyễn Quốc Trung - Minh họa: Đặng Tiến