Chương trình "Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026 - 2035" đặt mục tiêu đến năm 2030, có 50% học sinh trung học phổ thông; 25% học sinh trung học cơ sở; 15% học sinh tiểu học được định hướng khởi nghiệp.

Phó Thủ tướng Lê Thành Long ký Quyết định số 336/QĐ-TTg ngày 25/2/2026 phê duyệt Chương trình "Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026 - 2035" (Chương trình).
Chương trình áp dụng đối với người học tại các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp; học sinh tại các cơ sở giáo dục phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên; cùng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, nhà giáo, nhân viên và người làm công tác tư vấn, hỗ trợ khởi nghiệp trong các cơ sở giáo dục.
Mục tiêu tổng quát là hình thành văn hóa khởi nghiệp trong nhà trường; lan tỏa tinh thần và khát vọng khởi nghiệp, phát triển các sản phẩm, giải pháp có giá trị, mang bản sắc Việt Nam; tạo điều kiện để người học nâng cao năng lực làm chủ tri thức, công nghệ, tham gia đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
Bên cạnh đó, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đồng bộ, thực chất trong các cơ sở giáo dục, với sự hỗ trợ từ cơ chế, chính sách, hạ tầng, nền tảng số và vốn mồi, góp phần phát triển kinh tế tri thức và bền vững.
Đến năm 2030, đối với cơ sở giáo dục phổ thông, Chương trình phấn đấu có 50% học sinh trung học phổ thông, 25% học sinh trung học cơ sở và 15% học sinh tiểu học được định hướng khởi nghiệp; 35% học sinh trung học phổ thông, 15% học sinh trung học cơ sở và 10% học sinh tiểu học được trang bị kiến thức, kỹ năng, tư duy khởi nghiệp. Bình quân mỗi năm, tối thiểu 5% học sinh trung học phổ thông và 2% học sinh trung học cơ sở tham gia ít nhất một dự án hoặc hoạt động khởi nghiệp do nhà trường hoặc cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức.
Đối với các cơ sở đào tạo, 100% cơ sở phải ban hành và công khai quy chế hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp trên cổng thông tin; 100% cung cấp dịch vụ hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp theo các dịch vụ tối thiểu do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. Phấn đấu 85% sinh viên hoàn thành học phần khởi nghiệp hoặc tham gia tối thiểu một khóa học kỹ năng khởi nghiệp.
Số sinh viên khởi nghiệp mới đạt tối thiểu 50/10.000 sinh viên chính quy mỗi năm; riêng cơ sở đào tạo trọng điểm đạt tối thiểu 100/10.000 sinh viên. Hằng năm, tối thiểu 40% cơ sở đào tạo duy trì và triển khai chương trình ươm tạo khởi nghiệp; ít nhất 20% cơ sở đào tạo có 20 dự án khởi nghiệp sinh viên được ươm tạo mỗi năm, trong đó 50% hoàn tất ươm tạo và đạt ngưỡng ra thị trường. Đối với cơ sở đào tạo trọng điểm, tối thiểu 50 dự án được ươm tạo mỗi năm, 50% hoàn tất ươm tạo và đạt ngưỡng ra thị trường.
Giai đoạn 2026 - 2030 phấn đấu mỗi năm có ít nhất 40 dự án khởi nghiệp của nhà giáo, người học được đầu tư hoặc kết nối nguồn vốn; giai đoạn 2031 - 2035 phấn đấu mỗi năm ít nhất 70 dự án.
Để thực hiện các mục tiêu trên, Chương trình đề ra các nhóm nhiệm vụ và giải pháp như hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ; tăng cường kết nối hệ sinh thái khởi nghiệp; đổi mới nội dung, đẩy mạnh đào tạo thúc đẩy văn hóa khởi nghiệp; đầu tư hạ tầng, cơ sở vật chất; đa dạng hóa nguồn vốn cho chương trình, dự án khởi nghiệp.
Chương trình cũng nghiên cứu xây dựng, thí điểm mô hình “doanh nghiệp trong cơ sở đào tạo”, doanh nghiệp khởi nghiệp (startup), doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) gắn với cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox); xây dựng bộ tiêu chí đánh giá cơ sở đào tạo khởi nghiệp sáng tạo và chất lượng dịch vụ hỗ trợ sinh viên; thí điểm xếp hạng, đánh giá định kỳ và công bố trên nền tảng số của ngành.
Bên cạnh đó là các chính sách khuyến khích nhà giáo, người học tham gia khởi nghiệp; công nhận kết quả học tập, nghiên cứu qua dự án khởi nghiệp; cấp học bổng đổi mới sáng tạo; tăng cường kết nối mạng lưới cố vấn, nhà đầu tư, doanh nghiệp; thúc đẩy hợp tác quốc tế; xây dựng chương trình bổ trợ kiến thức, kỹ năng khởi nghiệp cho học sinh phổ thông với thời lượng tối thiểu 35 tiết/năm học; phát triển chương trình ươm tạo gắn với tư vấn công nghệ, chuyển đổi số, sở hữu trí tuệ và kết nối chuỗi cung ứng.
PV