Điểu En

14/06/2018 14:53

Truyện ngắn của Ngô Thị Ngọc Diệp

Minh họa: Đặng Tiến


Hàng xóm trong rẫy nhà tôi là người đàn ông Stiêng. Gia đình tôi và những người quanh đây không ai biết ông tên là gì vì ông bị câm, lại sống một mình. Ba tôi đã thử viết chữ ra giấy để nói chuyện với ổng nhưng ông ta xua tay, ra dấu không biết. Nên mọi người mặc nhiên đều gọi ông là Ông Câm.


Ông Câm sống một mình, không thấy có vợ con gì cả. Nước da đen bóng, đôi mắt tròng trắng nhiều hơn tròng đen. Thoạt đầu nhìn ông già cởi trần, hàm răng trắng ởn lúc nào cũng cắn điếu thuốc rê có vẻ không thân thiện, nhưng quen biết lâu mới thấy ông rất hiền. Mái tóc xoăn đen có lẫn nhiều sợi bạc chấm vai. Đã nhiều lần ba hớt tóc cho ông, nhưng ông đòi phải để tầm ngang vai mới chịu. Chỉ vào đầu tôi, ý ba bảo hớt gọn như tóc của tôi thì ông lắc đầu không chịu.


Chòi của ông và chòi nhà tôi gần nhau, đi bộ mươi phút là tới. Chỗ ông ở có cái mọi nước trong veo. Mọi nước này mùa khô cũng không cạn. Ba tôi bảo, ở vùng đất đỏ khô khát có được thứ quý giá này chủ nhân phải là người tử tế lắm thì trời mới ban lộc. Chúng tôi thường qua tắm giặt và xin nước về nấu cơm. Nhà chúng tôi đến vụ mới vào rẫy, hết việc thì về, còn ông quanh năm suốt tháng ở đấy, tiện thể trông coi giúp nhà tôi. Mỗi khi vào rẫy, ba tôi thường mua thuốc rê, mắm, muối, gạo cho ổng. Ổng thích nhất là nhang, dầu hôi, thuốc rê. Thuốc bao ông cũng không thích, chê nhẹ quá hay sao ấy.


Trước chòi nhà ông có mấy cái ụ mối to tướng, cắm đầy chân nhang, nhìn sờ sợ như mấy ngôi mộ. Bên chòi nhà mình tôi cũng thấy ba má cắm nhang đầy vào mấy ụ mối loanh quanh. Ba tôi bảo thắp nhang xin thần rừng thần núi, xin người khuất mặt khuất mày phù hộ cho nương rẫy được mùa, vợ chồng con cái mạnh khỏe, bình an.


Chúng tôi vào làm cỏ, hái điều ông đều qua phụ. Làm xong thì về, trả tiền công không lấy, lôi kéo, gọi mãi thì mới chịu ăn cơm. Ăn cơm chỉ thích cá khô, rau luộc, đậu xào, không ăn canh bao giờ. Vườn điều nhà tôi chưa bao giờ mất một hột. Kẻ xấu vô vườn đều bị ông đuổi, thấy ông là họ sợ không dám bén mảng tới. Đã vậy ông còn cho nhà tôi rất nhiều thứ: lúc thì nấm mối, nấm mèo, khi thì mướp rẫy, khi thì bí đỏ, khi thì măng le… Đi làm giữa trời nắng chang chang, trong rẫy đầy cỏ gai, muỗi mòng, kiến, ong đủ thứ nhưng ông vẫn cởi trần quanh năm, trên người độc chiếc quần đùi và đôi dép râu mòn nhẵn đế. Ba tôi cho áo quần nhiều lần, ông lấy về để đó, chẳng chịu mặc bao giờ. Ban đầu thấy ông chúng tôi sợ lắm, lâu dần thành quen, hễ vào rẫy là sang chòi nhà ông chơi. Theo ông đi bắt cá, bẫy chim, bẫy gà rừng. Ông còn có tài bắt rắn và bẫy thỏ.



Như thường lệ, tuần rồi cả nhà tôi lại vào dọn rẫy chuẩn bị cho mùa điều đơm bông. Tôi và thằng út chạy qua chòi nhà ông. Tôi xách chai dầu hôi, bịch thuốc rê, mấy cái hộp quẹt qua cho ổng nhưng thấy chòi vắng tanh. Quần áo vẫn vắt trên dây bên cái sạp, chỗ ngả lưng của ông. Mấy cái nồi méo mó lăn lóc, bếp lửa lạnh ngắt… Hốt hoảng chạy về nói lại cho ba má biết, hôm ấy cả nhà làm việc mà cứ mãi nghĩ về ông, không biết ông đi đâu, ông có bị làm sao không… Trưa má nấu cơm thì ba cha con tôi lại sang chòi nhà ông, đi quanh khu rẫy, ra chỗ trồng bí, trồng mướp, xuống mọi nước tìm cũng không thấy tăm hơi đâu cả.


Ngồi nhai cơm mà nghe nghèn nghẹn sao đó. Chiều ba kêu má bảo đưa chúng tôi về sớm, ba rẽ vô chỗ mấy chú kiểm lâm hỏi thăm về ông. Ba biết mấy chú đó hay ghé chòi nhà ông chơi. Chú Bình trạm trưởng cho ba biết ông Câm bị bệnh, đơn vị đã bố trí đưa đi viện dưới huyện. Chao ôi, nếu mấy chú không đến kịp có khi ông ấy chết còng queo rồi cũng nên. Chú Bình kể, khi mấy chú ghé vào thấy ông nằm rên hừ hừ, mặt mũi xanh như tàu lá. Căn chòi chỉ có bếp lửa âm ỉ khói và đặc biệt mấy ụ mối phía trước vẫn ngan ngát mùi nhang. Mấy chú lôi ông dậy chở đi viện mà ông cứ xua tay không chịu đi. Phải đến lúc, một chú cõng, một chú đi sau đẩy ông mới chịu yên. Cái xe máy tống ba chở ông xuống viện, mấy chú cắt cử nhau chăm sóc. Ông bị sốt rét và đói… khổ thân chưa!


Sáng hôm sau ba cho tôi theo lên viện thăm ông, chú Lâm đang ở đó. Thấy cha con tôi ông cười tươi, vẻ mỏi mệt biến mất. Ông kéo tay ba tôi ra hiệu muốn về. Ba chạy vô phòng bác sĩ trực, họ cho biết ông bị sốt rét và suy nhược cơ thể. Về nhớ bồi dưỡng cho ổng. Mặc áo bệnh viện tý xíu ông lại cởi ra, bác sĩ đến đưa áo ông lại mặc vô, cả phòng bệnh ai cũng cười, nhìn ông như người rừng mới về phố vậy. Bệnh án cũng ghi Ông Câm, không có tuổi vì chẳng ai đoán ra, trong người ông chẳng có giấy tờ gì sất.
Chú Lâm làm thủ tục xong thì chở ông về thẳng Trạm, ý muốn ông ở đó bồi bổ ít hôm đã. Ba nghe vậy cũng yên lòng.


Tuần sau vào đã thấy ông về chòi, đang lụi hụi đan đó và làm trúm bắt lươn. Cái giỏ đựng tôm cá của ông mới đẹp làm sao, phải nói là tinh xảo. Tay ông đan thoăn thoắt sao mà khéo quá. Thấy thằng út cứ mân mê cái giỏ, đeo ướm vào người, ông cười tươi rồi lấy đeo cho nó, ý bảo “cho cháu đấy”. Thằng út không hiểu, đeo đi chơi loanh quanh, đựng cá cua bắt dưới suối về lại cởi ra trả cho ông, ông cứ cầm chạy theo đưa cho nó… Ba má kêu thằng út mang qua trả cho ông, mình lấy làm gì, nhà ngoài thị trấn có cá cua gì đâu mà đựng, thằng út cầm chạy qua, treo lên vách chòi cho ông, thấy ông trừng mắt, tròng trắng long lên dữ dữ là… Ông Câm cầm cái giỏ xuống đeo vào ngực cho thằng út, xoa xoa đầu nó vẻ thân thiện lắm. Thằng út vừa sợ vừa vui cúi đầu cảm ơn ông rồi đeo giỏ chạy về. Cái giỏ, món quà của Ông Câm cho vẫn được thằng út treo trên vách phòng học của nó.


Đám đất gần suối âm ẩm, ba má tôi dọn sạch trỉa bắp, ông Câm cũng qua phụ. Ông chài lỗ nhanh và thẳng hàng. Ba nói cứ trỉa đại đi, đất tốt thế nào cũng có trái, khi đói Ông Câm có cái mà ăn. Bắp nướng, bắp luộc đều ngon, khi bắp già thì làm món bắp hầm.


Hết mùa điều thì cả mấy tháng gia đình tôi không vào rẫy. Thỉnh thoảng ba ghé qua cho ông chục ký gạo, chai dầu gió, bịch thuốc rê rồi thôi. Thấy ông đơn độc giữa khu rẫy vắng vẻ mà ái ngại.


Hôm rồi, mấy chú kiểm lâm lại ghé qua thăm chừng nên mới biết ông bị rắn cắn lúc tối khi ra thắp nhang cắm chỗ mấy ụ mối trước chòi. Mặc dù đã đắp lá thuốc bí truyền của dân tộc, nhưng thấy chân sưng to, mấy chú lại chở ông đi viện kiểm tra. Cũng may nọc độc không phát tán nhưng chân sưng do nhiễm trùng, từ vết trầy xước bị nước lá thuốc ông đắp ngấm vô. Bác sĩ cho thuốc về nhà điều trị. Mấy chú ấy lại chở ông về trạm, vì chân đau nên ông không thể bỏ về chòi như lần trước. Cầm gói thuốc bác sĩ khoa Ngoại đưa, chú Bình kiểm lâm ngạc nhiên vì bữa nay ông Câm đã có tên. “Bệnh án” ghi Điểu En. Thì ra, sau đợt sốt rét nhập viện lần trước mấy ngày, có cậu thanh niên người Stiêng đến Trạm, cảm ơn mấy chú cưu mang giúp đỡ ông Câm. Theo người thanh niên này thì ông Câm có tên là Điểu En, người ấp Bù Ngo. Cậu thanh niên trình bày: “Mình là Điểu Then, cháu Điểu En. Đã nhiều lần vô gọi Điểu En về ở cùng mà Điểu En không chịu…” Chuyện ông Câm có tên là Điểu En người ấp Bù Ngo cũng chỉ dừng lại ở đấy. Và lý do sao ông già Điểu En cứ thui thủi sống bên mọi nước giữa khu rẫy vắng vẻ cũng chỉ dừng lại ở lời Điểu Then: “Điểu En không chịu…”



Điểu En được đưa về trạm kiểm lâm điều trị “ngoại trú” vết thương nhiễm trùng ở chân kể cũng không có gì đáng nói cho lắm. Không chuyện trò được, khua tay múa chân một hồi mới hiểu nhau khiến ai cũng mệt mỏi chẳng “nói chuyện” nhiều với ông. Ông cứ vẩn vơ ngồi đẽo đẽo gọt gọt mấy cái tượng nhỏ xíu. Chú Bình mang cuốn album cũ của trạm ra cho ông xem, ngồi lần giở từng trang, chỉ từng khuôn mặt quen, có người đã chuyển ngành, có người đã về hưu… ông già nhớ hết và tỏ vẻ rất vui khi thấy hình của họ. Lần xem từng trang từng trang, đến cái ảnh gần cuối thì mắt ông già Điểu En chợt sáng lên. Tấm ảnh cũ rích, chú Bình cũng không biết người trong ảnh là ai… Lạ quá, sao ông già này lại xúc động đến vậy kìa! Mọi người xúm lại, dõi từng cử chỉ, cảm xúc trên gương mặt nhăn nheo có đôi mắt sáng quắc bất thường. Thì ra không phải gương mặt người trong tấm hình mà là phía sau gương mặt đó, trên vách có lá cờ Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam nửa xanh nửa đỏ, ngôi sao vàng ở giữa. Nâng niu tấm ảnh cũ rích, ông Câm thần mặt ra rồi bật khóc. Ông ú ớ, khua tay múa chân túa xua mà chú Bình không hiểu gì cả. Chú Bình bần thần nhìn ông già quệt nước mắt mà thương. Ông chống gậy đứng lên đòi về chòi. Cái chân sưng đỏ không có vẻ gì đau đớn cả. Trạm trưởng Bình từ lúc thấy ông già Stiêng vái lạy tấm ảnh cũ thì đã ngờ ngợ, giờ thấy ông một hai đòi về bằng được thì chú phải lấy xe chở ông về chòi. Tới nơi, thấy chú Bình quay xe định về, ông cầm tay kéo chú Bình vô chòi. Ông già nặng nhọc đứng lên sạp ngủ, với tay lấy cái túi ni lông cũ xì úa màu nhét trên mái tranh. Đập đập cho bụi và bồ hóng bay bớt, ông già thận trọng giở gói ra. Qua hai rồi ba lớp ni lông thì lộ ra tập giấy cũ, đã ố vàng. Trong đó có mấy lá thư đã bóc, mấy con tem chưa dùng, cuốn nhật ký và lá cờ nửa xanh nửa đỏ, đằng sau lá cờ là sơ đồ mộ chí. Sơ đồ mộ chí có ghi rõ họ tên, quê quán, ngày nhập ngũ, phiên hiệu đơn vị, ngày hy sinh… Bây giờ thì đến lượt ông già Stiêng ú ú ớ ớ lập cập lúng túng trước cảnh trạm trưởng Bình quỳ sụp xuống, nước mắt rơi lã chã. Phải mươi phút sau, ông già mới định thần, tập tễnh kéo tay chú Bình ra đằng trước chòi. Vén mấy dây lá giang lòa xòa ông chỉ cho chú Bình ba ngôi mộ mà thoạt nhìn ai cũng tưởng là ba ụ mối, có cắm đầy chân nhang. Trạm trưởng Bình đổ ập xuống, khóc to: “Cha ơi…”


Đã bao năm má và anh em chú Bình đi tìm cha và đồng đội của cha. Chú Bình xin về Trạm này công tác cũng có ý tiện bề đi tìm cha và đồng đội của người. Vậy mà tìm muốn nát khoảnh rừng quanh đó, ai chỉ ở đâu cũng tới, đào bới mãi mà không thấy. Má chú Bình khấn vái, thầy bà đã nhiều mà vẫn chưa có duyên tìm gặp. Thật không ngờ…


Ông già Điểu En lặng lẽ quay về chòi lấy ra bó nhang dịp trước cha con tôi mua đem vô. Chiếc quẹt ga mới tinh điều chỉnh gas ở nấc dấu cộng làm ngọn lửa xanh lét vụt sáng soi rõ khuôn mặt Điểu En già nua nhăn nheo, khắc khổ đang giãn ra rạng ngời hạnh phúc.


Lần đầu ông Điểu En cười thành tiếng. Những âm thanh a… a… a… a… hòa trong gió, trong nắng từng hồi dài, nó không u u ơ ơ vô hồn vô ảnh như bao năm trước nữa.

(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Điểu En