(HPĐT)- Sự việc ngai vàng triều Nguyễn bảo vật quốc gia trưng bày tại điện Thái Hòa thuộc Di tích cố đô Huế bị một đối tượng làm hư hại một cách dễ dàng khiến dư luận bức xúc trong những ngày qua. Đây không phải lần đầu một bảo vật quốc gia bị xâm phạm, làm hư hại. Trước đó, đầu tháng 5-2025, lăng mộ vua Lê Túc Tông- Di tích lịch sử cấp quốc gia tại huyện Thọ Xuân (tỉnh Thanh Hóa) bị đào bới, phá vỡ bia đá. Những sự việc trên “gióng lên hồi chuông” cảnh báo trong công tác bảo vệ di sản, di tích.
Hải Phòng là vùng đất miền cửa biển giàu bản sắc văn hóa, có nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú. Thành phố hiện có 942 di tích, trong đó có 1 di sản thiên nhiên thế giới, 5 di tích quốc gia đặc biệt, 119 di tích quốc gia, 437 di tích thành phố, 22 bảo vật quốc gia và 12 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Tuy nhiên, trên địa bàn thành phố cũng ghi nhận một số vụ việc xâm phạm di tích, di sản, như Di tích cấp quốc gia Chùa Trà Phương (huyện Kiến Thụy) trong quá trình tu bổ bị cơi nới, thay đổi nghiêm trọng so với phê duyệt ban đầu; Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia Chùa Trung Hành (quận Hải An) bị xâm phạm làm thay đổi, biến dạng, một số tượng phật, hiện vật cổ không còn; di tích lịch sử Đình Hoàng Châu (huyện Cát Hải) bị kẻ xấu lấy trộm Kiệu Mẫu… Các vụ việc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến giá trị lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật của di tích, di sản; là dấu hiệu đáng lo ngại về sự suy giảm ý thức xã hội và sự buông lỏng trong công tác quản lý.
Khi di tích, di sản bị xâm phạm thì trách nhiệm không thể “dồn lên” một cá nhân, một tổ chức hay cơ quan nào. Đó phải là trách nhiệm nhiều tầng, từ người, đơn vị trực tiếp quản lý hiện vật đến hệ thống giám sát, bảo vệ và ý thức của người dân. Nhưng sâu xa hơn, là một hệ thống chính sách, phương thức bảo tồn di sản đã lạc hậu, thiếu cập nhật- nhất là cập nhật về công nghệ, dẫn đến hiệu quả thấp. Trong lúc đất nước đang phát triển công nghiệp văn hóa, chính những di sản, di tích lại được gìn giữ, bảo vệ một cách thủ công, lạc hậu và mong manh. Không khó để nhận thấy, tại nhiều di tích, di sản, nơi trưng bày hiện vật, “hàng rào” bảo vệ vẫn khá đơn sơ với tấm biển “Cấm sờ vào hiện vật”, hay những sợi dây ngăn cách, những tấm kính mỏng…
Khi nhiều di tích, di sản được mở cửa để phục vụ du lịch với lượng khách ngày càng tăng, việc bảo vệ cần được đầu tư tương xứng với yêu cầu mới. Hiện có nhiều văn bản quy phạm pháp luật tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Các quy định đã rõ, vấn đề là triển khai, áp dụng vào thực tiễn đem lại hiệu quả đến đâu. Trước thực tế đặt ra trong công tác quản lý, bảo vệ di sản, di tích, cổ vật, đòi hỏi cần thiết có sự thay đổi, chuyển từ tư duy “trưng bày” sang tư duy “bảo vệ chủ động và thông minh”, tạo ra cơ chế tiếp cận an toàn, vừa bảo đảm đáp ứng nhu cầu văn hóa, giáo dục, vừa giữ vững nguyên trạng di sản. Để làm được điều này, nhiệm vụ cấp thiết hiện nay của các địa phương, cơ quan là cần xây dựng phương án bảo vệ đặc biệt đối với từng di tích, di sản, bảo vật quốc gia trên địa bàn; chú trọng biện pháp phòng, chống cháy, nổ, trộm cắp, thiên tai và các nguy cơ gây hại khác để bảo đảm tuyệt đối an toàn. Trong quá trình quản lý, bảo vệ các “bảo vật” này phải phân định rõ tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm chính; tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức xã hội, khuyến khích sự tham gia của người dân trong việc bảo tồn, phát huy giá trị của di tích, di sản; xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm.