(HPĐT)- Tập kích sân bay Cát Bi thắng lợi có ý nghĩa quan trọng cả về quân sự - chính trị - ngoại giao. Đối với ta, chiến thắng cổ vũ tinh thần quyết chiến, quyết thắng của quân và dân cả nước, củng cố lòng tin của cán bộ, chiến sĩ vào khả năng dùng lực lượng nhỏ nhưng tinh nhuệ tiêu diệt những mục tiêu được bảo vệ cẩn mật ngay trong lòng địch. Kết quả của trận đánh chứng tỏ hậu phương của ta rất vững chắc. Có dân, được dân hỗ trợ, giúp đỡ là điều kiện cơ bản để bộ đội ta khắc phục khó khăn, hoàn thành mọi nhiệm vụ…

Quân Pháp tại sân bay Cát Bi trước xác máy bay bị bộ đội ta phá hủy ngày 7-3-1954. (Ảnh tư liệu do nhà nghiên cứu Phạm Tuệ cung cấp).
Ngày 9-11-1953, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng xác định kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954. Ngày 6-12-1953, Tổng Quân ủy trình Bộ Chính trị “Phương án tác chiến mùa Xuân năm 1954” và được Bộ Chính trị thông qua phương án và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Ngày 22-12-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao Cờ “Quyết chiến quyết thắng” cho Quân đội. Người chỉ thị: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà còn đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”.
Cuối tháng 12-1953, Hội nghị Khu ủy Tả Ngạn họp, kiểm điểm, phân tích kỹ tình hình địch, tình hình kháng chiến trên địa bàn, đề ra phương hướng hoạt động Đông Xuân 1953-1954. Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu chỉ thị Tỉnh ủy, Tỉnh đội Kiến An nghiên cứu kế hoạch tập kích sân bay Cát Bi để phối hợp với hoạt động của cả nước trong Đông Xuân 1953-1954.
Sân bay Cát Bi là một trong những sân bay chiến lược lớn nhất của quân Pháp ở Đông Dương, được trang bị hiện đại và bảo vệ rất nghiêm ngặt. Sau khi sân bay của địch tại Đồ Sơn bị ta tấn công, quân Pháp càng tăng cường bảo vệ sân bay cả bên trong và vành đai bên ngoài. Do địch thực hiện “vành đai trắng” bằng sự khủng bố gắt gao, đến lúc này ta chưa xây dựng cơ sở chung quanh sân bay thuộc huyện Hải An. Các xã Tân Phong, Hợp Đức, Hòa Nghĩa... thuộc huyện Kiến Thụy có cơ sở Đảng, nhưng hoạt động còn yếu. Trong khi đó, địch tổ chức mạng lưới tề dõng, chỉ điểm thường xuyên càn quét, bắt bớ hòng lung lạc tinh thần của nhân dân, phá cơ sở kháng chiến của ta. Bộ đội địa phương tỉnh Kiến An có nhiều kinh nghiệm đánh vào các căn cứ, kho tàng nằm sâu trong lòng địch, nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm đánh sân bay.
Chấp hành chủ trương, chỉ đạo của Khu ủy, Bộ Tư lệnh Khu Tả Ngạn, Tỉnh ủy Kiến An chỉ thị Tỉnh đội sử dụng lực lượng nhỏ, có sức chiến đấu cao, bí mật đột nhập sân bay, phát hủy máy bay, rút nhanh về căn cứ trước khi trời sáng... 32 cán bộ, chiến sĩ được chọn từ Đại đội 295, Đội quân báo 208 của Tỉnh đội, tổ chức thành một đội chiến đấu, do đồng chí Minh Khánh (tức Lê Thừa Giao), Trưởng ban Tác chiến Tỉnh đội chỉ huy. Được dày công chuẩn bị, trận đánh diễn ra theo đúng kế hoạch. Rạng sáng 7-3- 1954, theo hiệu lệnh tiến công, các chiến sĩ dũng cảm xông vào khu máy bay đỗ, móc bộc phá, giật nụ xòe phá hủy máy bay. Hàng loạt tiếng nổ làm chấn động cả một vùng, lửa cháy sáng rực bầu trời. Cuộc chiến đấu diễn ra trong 15 phút, sau đó các mũi nhanh chóng rút ra. Trận này, địch bị phá hủy 59 máy bay cùng nhiều phương tiện, vũ khí. Bộ đội Kiến An thực hiện thắng lợi vượt mức Khu ủy đề ra.
Ngay sau khi nhận được tin thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cán bộ, chiến sĩ tham gia trận đánh lịch sử này danh hiệu “Đoàn dũng sĩ Cát Bi”. Đánh giá về vai trò của trận tập kích sân bay Cát Bi đối với chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh: “Những trận đánh “xuất quỷ, nhập thần” tập kích sân bay Gia Lâm, đặc biệt là sân bay Cát Bi, đánh thẳng vào nơi trung tâm quân sự của giặc, đã phá hủy một bộ phận quan trọng không quân địch, tạo điều kiện thuận lợi cho các chiến trường toàn quốc và chiến trường chính Điện Biên Phủ…”.
ĐẠI TÁ, THẠC SĨ TRẦN QUỐC HUY, CHỦ TỊCH CHI HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ QUÂN SỰ