Em trai tôi

Truyện ngắn của Đoàn Đức Châu 26/04/2024 18:10

(HPĐT)- Mỗi năm, cứ độ tháng Tư về, lòng người lại bâng khuâng nhớ đến sự hy sinh của những người lính. Bởi tháng Tư là tháng có ngày thống nhất đất nước, kết thúc chiến tranh, có niềm vui và nỗi buồn trong mỗi gia đình, có sự đánh thức ký ức trong tâm hồn mỗi người lính, có nỗi nhắc nhớ những việc cần phải làm với những người đã khuất… Văn học viết về chiến tranh vì thế không bao giờ lỗi thời, nhưng những trang viết thấm thía nhất, đi vào lòng người nhất, gây ám ảnh nhất chính là những trang văn giản dị mà xúc động. Cuộc chiến đã lùi xa, những vết thương lòng cũng đã dần "lên da non", cách viết "lên gân, lên cốt" không còn phù hợp tâm lý tiếp nhận của số đông. Chính bởi vậy, truyện ngắn của Đoàn Đức Châu- cựu chiến binh người Hải Phòng chỉ như tự truyện nho nhỏ, với cách kể dung dị, truyền cảm, chân thực, lại mở ra những chiều kích to lớn của vấn đề, có khả năng neo giữ đâu đó, lòng biết ơn quá khứ, ở nơi sâu kín trong lòng người đọc…

Minh họa: Đặng Tiến

Nhà văn Nguyễn Đình Tú

Nhà tôi có nhiều anh chị em. Tôi và Hải (em trai tôi), thuộc nhóm cuối trong nhà. Gọi là cách nhau một tuổi chứ thực ra tôi ra đời trước nó có hơn mười tháng. Như mẹ tôi nói, đó là vì hai ông bà muốn "đẻ nốt cho nhanh". Có thể vì chào đời sát nhau nên hồi nhỏ hai đứa rất giống nhau. Tuy vậy tính tình anh em tôi lại khác nhau. Từ bé tôi đã là một đứa trẻ mạnh bạo, nghịch ngợm. Ngược lại cậu em hiền lành, ít nói lại hay nín nhịn. Một lần lúc đánh nhau với lũ trẻ cùng phố tôi ném vỡ cửa kính của nhà bên kia đường. Sợ quá tôi chạy vụt về nhà, trốn dưới gầm giường. Bà chủ nhà đuổi theo tới tận cửa nhà tôi, tóm luôn ông em tôi đang đứng lớ ngớ ở đó. Bà ấy quát mắng, đánh vào đít nó mấy cái, dẫn đến gặp mẹ tôi bắt đền. Mặc bà ấy bù lu bù loa, Hải cứ đứng im lặng không nói gì. Mẹ tôi nghe xong bật cười phân giải: "Không phải thằng này đâu mà là thằng anh nó vừa chạy qua đây cơ!". Bà lấy cái gậy khua cho tôi bò ra từ gầm giường. Nhìn cái đầu bù xù đầy mạng nhện của tôi rồi quay sang nhìn cậu em tôi đang im lặng chịu đựng, bà hàng xóm phì cười, vẻ xí xóa nói với nó: "Bác xin lỗi nhé, bác nhầm. Sao cháu không nói gì cả?". Mẹ tôi nói xen vào: "Nó sợ anh nó bị đòn nên không khai ra đâu!".

Hai anh em đi chơi đâu cũng có nhau. Đánh nhau với bọn trẻ nào trong phố cũng bên nhau. Tôi học hơn Hải một lớp, nhưng chúng tôi luôn đợi nhau cùng về sau giờ học. Một lần, chuẩn bị thi kiểm tra học kỳ nó giải mãi không được mấy bài ôn tập ở nhà. Hải nhờ tôi giảng cho. Vì mải chơi tôi bảo em: "Không cần. Ngày mai tao thi hộ!". Hôm sau, tôi vào lớp thi thay cho nó thật. Tôi không nói nên chẳng ai để ý. Chỉ đến khi tôi nộp bài thầy giáo thấy ngờ ngợ mới gọi giật: "Em Hải lên đây!". Tôi vẫn đi về chỗ như thằng điếc nên bị lộ. Vậy mà nhìn hai đứa trẻ kháu khỉnh, giống nhau như sinh đôi ông ấy bật cười và tha cho nó. Mấy hôm sau tôi ngạc nhiên thấy Hải lầm nhẩm hát một bài rất lạ:"Trời trong xanh lờ lững áng mây trắng trôi êm đềm. Trên đồng lúa non có đôi bướm vàng trắng bay nhởn nhơ…"

Tôi hỏi, em tôi buồn bã bảo, ông thầy giáo tốt bụng ấy đi bộ đội, vào miền Nam rồi. Bài hát này ông ấy vừa dạy chúng nó. Nó nhớ ông ấy lắm. Nhìn vẻ mặt buồn rười rượi của cậu em trai tôi thấy thương nó quá. Tôi vốn nghĩ cuộc đời này không bao giờ chia tách anh em tôi. Nhưng đó là sự thật trớ trêu. Khi chiến tranh lan ra miền Bắc, bố đưa anh em tôi về quê nội sơ tán. Tôi chỉ ở trong ấy vài tháng rồi quay về thành phố ở với mẹ. Sau ba năm, một chiều hè, Hải cũng tự rời quê trở về nhà. Tôi choáng người, suýt không nhận ra em mình. Nó chần chừ đứng cạnh cửa nhà tôi, đen cháy như đứa trẻ nông thôn, lôi thôi trong bộ quần áo cũ bạc màu. Tôi xót xa nhìn Hải và thấy ân hận đã để em ở quê một mình. Tôi bắt cậu em tắm rửa sạch sẽ, mặc bộ quần áo mới của tôi. Nhìn bộ dạng khác hẳn của nó, tôi an lòng, quyết "cải tạo" nó trở lại thành "người phố". Nhưng năm sau, tôi vào đại học. Hai đứa lại xa nhau. Mỗi lần về nhà tôi mải mê "chuyện riêng" của mình, nên hai anh em ít có dịp tâm sự với nhau. Tính Hải vẫn như xưa, trầm tĩnh, ít nói và nhường nhịn. Nhà nghèo nên chúng tôi không có nhiều quần áo đẹp. Mùa đông hai anh em mặc chung chiếc áo khoác ngoài. Một lần, trước đêm giao thừa, tôi đi chơi với bạn về muộn. Thấy Hải ngồi ở nhà một mình tôi định hỏi thì đỏ mặt. Trên người nó phong phanh mỗi chiếc áo sơ mi mà ngoài trời lạnh 18 độ. Tôi xin lỗi thì em tôi cười: "Em đã có người yêu đâu mà anh phải lo. Ngồi nhà cần gì áo khoác!". Tôi thầm biết ơn em mình và tự bảo sẽ quan tâm đến nó hơn.

Thực tế thì ngược lại. Hải cứ lẳng lặng chăm lo cho tôi, sẵn sàng làm mọi việc giúp tôi. Khi đã đi làm nó còn gửi tiền cho tôi. Tôi đang học năm thứ ba thì được tin Hải đi bộ đội. Bấy giờ tôi mới hiểu tại sao nó không thi vào đại học. Thời chiến tranh gia đình nào cũng phải có người tham gia Quân đội. Hải ở nhà làm công nhân rồi đi bộ đội để tôi có thể được học hết đại học. Tôi vội vã trở về Hải Phòng. Mấy anh chị em tôi đi xe đạp lên tận khu huấn luyện tân binh trên vùng núi Đông Triều thăm em. Nhìn Hải trong bộ quân phục màu xanh rộng thùng thình tôi nghẹn ngào vì thương em. Vẫn như thường lệ em tôi không nói nhiều. Đôi mắt nó ánh lên nỗi buồn sâu thẳm của một người sắp phải xa nhà, xa người thân. Tôi cũng không ngờ đấy là lần cuối cùng anh em tôi gặp nhau.

Hơn một năm sau gia đình tôi nhận tin em trai tôi hy sinh ở mặt trận Cánh đồng Chum- Xiêng Khoảng. Cả nhà tôi suy sụp sau lễ truy điệu nó. Bố tôi, thay vì vẻ hớn hở ngày tiễn em tôi ra trận, giờ đắp chiếc khăn ướt lên mặt, nằm lì cả ngày trên giường. Mẹ và các chị tôi ôm nhau nức nở ở phòng trong. Tôi tê tái trong nỗi đau đớn, cô đơn tột cùng bởi cảm giác vừa mất đi người gần gũi nhất. Tôi vốn tưởng em trai tôi sẽ gắn bó mãi bên tôi.

Cả đêm hôm ấy tôi nằm không ngủ mặc những dòng nước mắt chảy tràn trên mặt. Sáng sớm hôm sau, tôi lặng lẽ trở lại trường và xin đi bộ đội.

*

Đã hơn bốn mươi năm trôi qua. Chiến tranh chỉ còn được nhắc lại trong những bộ phim nhân dịp kỷ niệm những ngày chiến thắng. Tôi cũng đã cất kỹ bộ quân phục cũ của mình trong tủ cùng những tấm huân chương, huy chương của em tôi như những kỷ vật còn lại của chiến tranh. Công việc mưu sinh khiến mọi người quên dần những khổ đau, mất mát năm xưa. Điều này là lẽ tự nhiên. Nhưng ký ức của thời lửa đạn không bao giờ phai nhạt trong tâm trí những người lính già.

Đó không chỉ là niềm tự hào về những năm tháng trai trẻ oai hùng, mà còn là vết đau trong tâm hồn họ bởi cái chết của đồng đội, bởi nỗi chua xót khi bắt gặp ánh mắt đau đớn của mẹ các liệt sĩ. Ánh mắt đó như muốn hỏi tại sao con mẹ vẫn chưa về. Với những bà mẹ bất hạnh ấy con mình không thể nào ra đi trước được. Mẹ tôi cũng vậy. Trước lúc nhắm mắt từ biệt cõi đời này, bà vẫn hỏi: "Có tin gì của em nó chưa?". Tôi nuốt nước mắt hứa với mẹ sẽ đi tìm em tôi về.

Mùa hè năm ngoái tôi cùng các đồng đội cũ của Hải trong Trung đoàn quân tình nguyện 866 sang Lào theo "Hành trình về mặt trận xưa". Nhìn tôi, họ thấy những nét quen quen của người đồng đội cũ nên gọi luôn tôi là "anh thằng Hải".

Trước lúc qua biên giới chúng tôi đến thắp hương tại "Nghĩa trang bộ đội tình nguyện Việt Nam tại mặt trận Lào" trên đất Nghệ An.

Đứng trước hàng nghìn nấm mộ "chưa biết tên" của các liệt sĩ, mọi người có chung cảm giác đau buồn và có lỗi với những đồng đội đã khuất. Những cựu chiến binh chúng tôi thấu hiểu. Chiến tranh không xót thương ai cả. Nếu trong những nấm mộ đó không phải là họ thì là chúng tôi.

Sáng sớm hôm sau, chiếc xe chở đoàn cựu chiến binh với tấm băng đỏ rực đầu xe nhanh chóng được cấp phép qua cửa khẩu Nặm Cắn. Vượt qua những đỉnh núi ngoằn ngoèo, cao ngất của dãy Trường Sơn, đoàn dừng chân bên cánh rừng khộp. Nghe các đồng đội của Hải ồn ào tranh cãi về con đường hành quân năm xưa, tôi như thấy em mình mặt đẫm mồ hôi, ba lô con cóc và khẩu AK nặng trĩu trên vai, mệt mỏi bước từng bước trong cánh rừng già. Một anh bạn chợt thốt lên: "Bây giờ đi ô tô mà còn thấy mệt. Thế mà hồi ấy bọn mình hành quân bộ, lại phải dỏng tai nghe ngóng tiếng máy bay B52. Khỏe thật đấy nhỉ!". Những người lính này cũng không hiểu nổi hồi đấy họ lấy đâu ra sức mạnh như vậy. Tới gần Xiêng Khoảng chúng tôi được một cựu chiến binh trong "Hội hữu nghị Việt - Lào" đón về nghỉ trong khách sạn. Khách sạn này không lớn, nhưng được coi là sang trọng ở vùng Bắc Lào xa xôi. Ngạc nhiên tôi nhìn những đõ ong rừng to, đầy mật lơ lửng ngay dưới mái hiên, phía trên cửa sổ mỗi căn phòng. Nơi đây thật yên bình.

Buổi tối, Ban chỉ huy Tỉnh đội nồng nhiệt đón đoàn chúng tôi. Những cựu chiến binh Lào không giấu niềm vui khi gặp lại những chiến sĩ tình nguyện Việt Nam năm xưa. Không chút xã giao, họ ôm nhau, say sưa nói chuyện cả bằng tiếng Việt lẫn tiếng Lào. Tận đêm khuya cuộc hội ngộ mới chấm dứt trong điệu Lăm-vông dân dã quen thuộc.

Hôm sau, chúng tôi đi thăm cánh đồng Chum. Cánh đồng này nổi tiếng với những câu chuyện huyền thoại mờ mờ, ảo ảo. Chúng làm mọi người càng nghe càng thấy khó hiểu, càng tò mò. Anh bạn người Lào hóm hỉnh trả lời các câu thắc mắc: "Nếu tìm được lời giải thích rõ ràng cho nguồn gốc những cái chum ở đây thì làm gì còn huyền thoại nữa. Huyền thoại cũng chỉ là những câu chuyện được nghĩ ra từ cuộc sống đời thường mà thôi!"

Mọi người say mê tìm hiểu các câu chuyện, còn tôi chỉ chăm chú nghe diễn biến các trận đánh dữ dội ở đây. Chúng là một phần của cuộc đời em trai tôi.

Hoàng hôn ở thung lũng này xuống rất nhanh. Mới sau nửa tiếng, ánh sáng đã nhập nhoạng phủ khắp cánh đồng hoang vu, bao la, lộng gió. Lẳng lặng tách khỏi đoàn tôi ngồi bệt xuống bãi cỏ giữa những cái chum to lớn, cũ kỹ, sần sùi, mốc rêu.

Trong làn sương lành lạnh của cao nguyên bắc Lào tôi thấy mình cô đơn, nhẹ tênh, như đang bay vào thế giới khác. Tôi khẽ gọi tên em tôi rồi chờ tiếng trả lời. Song đáp lại chỉ có tiếng côn trùng rền rĩ triền miên và những luồng sáng xanh lạnh lẽo của bầy đom đóm chốc chốc lóe lên, kéo dài trong không trung vắng lặng giữa vùng đồng không mông quạnh phủ đầy lau sậy. Mặc kệ. Vừa khóc tôi vừa thầm gọi: "Em ở đâu, Hải ơi?". Tôi thấy linh hồn em tôi thấp thoáng đâu đây, trên cánh đồng hoang nổi tiếng này.

Sau mấy ngày gặp gỡ, trao đổi thông tin với đơn vị tìm kiếm liệt sĩ tại tỉnh Xiêng Khoảng, chúng tôi phải quay về Việt Nam. Đứng bên mười lăm bộ linh cữu liệt sĩ Việt Nam vừa tìm thấy, được phủ bằng những lá cờ đỏ, tôi run run thắp nén hương cầu khấn em tôi hiện về, mách bảo tôi nơi em đang nằm. Cảm giác buồn bã, thất vọng ám ảnh tôi cả khi đứng giữa khu nghĩa trang tưởng niệm "Bộ đội tình nguyện Việt Nam tại tỉnh Xiêng Khoảng". Nghĩa trang bây giờ trống rỗng không còn một ngôi mộ. Người ta thông báo tất cả hài cốt đã được chuyển về Việt Nam với ghi chú "chưa biết tên".

Tôi đành hy vọng xương cốt của Hải cũng có trong đó và đang nằm đâu đây giữa hàng nghìn ngôi mộ trống tên tại Nghĩa trang Anh Sơn (Nghệ An), chờ xác nhận danh tính. Điều này phần nào an ủi vong hồn mẹ tôi, người đã lặng lẽ khóc thầm vì nó đến tận giây phút cuối cùng của đời mình. Bây giờ tôi đã là ông nội. Lòng tôi đau thắt khi đứa cháu ngây thơ chỉ bức ảnh trong phòng làm việc của tôi hỏi: "Ông ơi, chú này là ai?". Bố nó nói: "Đây là ông Hải!". Nó lắc đầu không tin vì ông trông trẻ hơn bố nó. Bao nhiêu năm trôi qua, nhưng hình bóng em tôi vẫn ngày ngày gắn với cuộc sống của tôi. Lúc gặp khó khăn, trắc trở tôi nhìn ảnh Hải tâm sự. Điều đó giúp tôi tĩnh tâm, xử lý mọi việc đúng đắn hơn, khôn ngoan hơn. Khi có niềm vui, tôi cũng thích khoe với em mình. Nhưng lúc ấy Hải miễn cưỡng nở nụ cười buồn. Tôi chợt nhớ ra. Cuộc đời ngắn ngủi của em tôi có được hưởng mấy niềm vui đâu.

Nỗi nhớ thương đứa em trai cứ lưu lại trong lòng tôi như món nợ chưa trả được của cuộc đời. Nó còn day dứt chừng nào tôi chưa tìm được Hải về. Tôi phải quay lại nơi đó. Tôi muốn lần theo con đường em tôi đã đi một lần nữa. Biết đâu trời phật sẽ thương xót và cho tôi một cơ may nào đó.

Dù biết ít hy vọng tôi vẫn mơ hồ bấu víu vào câu nói vu vơ của chị tôi: "Biết đâu cậu ấy vẫn còn sống rồi lấy vợ bên ấy thì sao!"

Thế là tôi lại cháy lên mong muốn gặp lại những chàng trai, cô gái trẻ đáng yêu bên Lào. Tôi muốn nhìn kỹ họ một lần nữa xem liệu có ai mang nét hao hao giống em tôi không. Trên đời này còn những điều kỳ diệu mà. Hy vọng nhiều khi chỉ là ảo tưởng. Là người lính đã trải qua chiến tranh, tôi tin rằng, nếu máu em tôi đã đổ xuống cho bình yên của mảnh đất này thì hình ảnh em tôi sẽ lưu lại trong bất cứ ai trân trọng sự hy sinh của nó.

Tôi bỗng nhớ nước Lào với những cánh rừng bạt ngàn hùng vĩ, những cao nguyên bao la trải dài bên những nương lúa, nương ngô, nhớ cánh đồng Chum huyền ảo, nhớ dòng sông Mê Kông đỏ ngầu phù xa, cuồn cuộn chảy qua nơi đây, nhớ những con người hiền lành, chất phác, thủy chung của đất nước Triệu Voi thân yêu này.

Và nhớ, giữa khung cảnh yên bình, tĩnh lặng của cao nguyên bắc Lào, em trai tôi hiện lên mỉm cười, vẫy tay chào tôi, khe khẽ hát: "Trời trong xanh lờ lững áng mây trắng trôi êm đềm… ''./.

Truyện ngắn của Đoàn Đức Châu
(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Em trai tôi