Nhiều khó khăn
Là một trong những doanh nghiệp tiên phong trong nuôi thủy sản hữu cơ tại Việt Nam, ông Antoine Bùi, Trưởng đại diện Công ty BINCA Việt Nam cho rằng, hiện Việt Nam có nhiều chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, nhưng việc tiếp cận chính sách hỗ trợ còn khó khăn. Nhà nước cần có những chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp hữu cơ. Bởi việc đầu tư vào lĩnh vực này tuy tốn nhiều chi phí, nhưng mang lại sản phẩm an toàn đối với người tiêu dùng, góp phần bảo vệ môi trường.
Ông Đặng Tấn Huynh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã hồ tiêu hữu cơ Đồng Thuận (Đắk Nông) chia sẻ, sản xuất nông nghiệp hữu cơ dễ thực hiện, hoàn toàn không sử dụng phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật. Tuy nhiên, do quá trình đầu tư cao nên giá cả sản phẩm hữu cơ khó cạnh tranh với những sản phẩm thông thường cùng loại trên thị trường. Ông Huynh cho rằng, nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ đơn vị sản xuất hữu cơ bảo đảm giá sản phẩm hữu cơ cạnh tranh được với sản phẩm thông thường. Có thể thành lập một quỹ quốc gia hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ hoạt động như một quỹ đầu tư hỗ trợ và kết nối doanh nghiệp sản xuất hữu cơ. Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp và các địa phương hỗ trợ nông dân từ nắm bắt quy trình sản xuất hữu cơ, cho tới hướng dẫn, thực hiện mô hình tại đơn vị sản xuất nông nghiệp hữu cơ.
Tiến sĩ Phạm Đồng Quảng, chuyên gia nghiên cứu sản xuất nông nghiệp nhận định, Việt Nam hiện chưa có hành lang pháp lý rõ ràng và không có chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp hữu cơ. Ở một số nơi, đất sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, thiếu phân hữu cơ, trong khi sâu bệnh, dịch bệnh trong sản xuất nông nghiệp ngày càng gia tăng. Giá thành sản phẩm hữu cơ không cao so với sản phẩm thông thường trong khi chi phí sản xuất cao. Thị trường tiêu thụ và hướng xuất khẩu cũng là một trong những thách thức lớn đối với phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam.
Hoàn thiện khung pháp lý
Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn xây dựng dự thảo Nghị định về sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Dự thảo đang nhận được sự góp ý từ các doanh nghiệp, chuyên gia nông nghiệp.
Là doanh nghiệp có sản phẩm đạt chứng nhận hữu cơ của Mỹ, EU và Nhật Bản, bà Huỳnh Đinh Hà Giang, Tổng Giám đốc và đồng sáng lập Công ty BIO Pháp bày tỏ băn khoăn, liệu khi nghị định có hiệu lực, những sản phẩm đã được chứng nhận đạt chuẩn quốc tế của công ty có được chứng nhận sản phẩm hữu cơ theo tiêu chuẩn Việt Nam? Theo bà Giang, khi ban hành nghị định về nông nghiệp hữu cơ cần có những tiêu chuẩn chứng nhận sản phẩm hữu cơ sát với tiêu chuẩn hiện hành trên thế giới, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu nông sản hữu cơ.
Đồng quan điểm trên, tiến sĩ Nguyễn Công Thành, Trưởng Phòng Nghiên cứu cây công nghiệp, Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, cho biết: đơn vị này đang tham gia đồng hành doanh nghiệp và nông dân sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nhất là về lúa gạo. Tuy nhiên, việc phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam chậm so với thế giới, ngay cả với các nước trong khu vực như Thái Lan, Cam-pu-chia, Phi-líp-pin… Do vậy, khi ban hành nghị định cần chú ý đến những tiêu chuẩn chứng nhận sản phẩm hữu cơ sát với các tiêu chuẩn được công nhận rộng rãi trên thế giới để rút ngắn thời gian phát triển nông nghiệp hữu cơ Việt Nam.
Ông Phan Minh Tuấn, Giám đốc Công ty Giải pháp Diệp Lục Lâm Đồng, đơn vị chuyên tư vấn và thực hiện các mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ, cho biết, Việt Nam hiện chỉ có bộ tiêu chuẩn PGS (hệ thống bảo đảm có sự tham gia vào chuỗi cung cấp hữu cơ), tuy nhiên tiêu chuẩn PGS này gần như là một quy chuẩn thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Do đó, ông Tuấn cho rằng, việc thống nhất về chứng nhận sản phẩm hữu cơ Việt Nam là điều quan trọng cần sớm thực hiện nhằm tạo điều kiện sản phẩm hữu cơ phổ biến trên thị trường trong nước cũng như xuất khẩu. Đặc biệt, đơn vị có chức năng chứng nhận sản phẩm hữu cơ Việt Nam phải hoạt động công khai, minh bạch. Đồng thời cần có những chế tài ngăn chặn và xử phạt các đơn vị kinh doanh lạm dụng từ ngữ sản phẩm hữu cơ hoặc trà trộn sản phẩm thông thường vào sản phẩm hữu cơ.
Bên cạnh đó, để đẩy mạnh nông nghiệp hữu cơ phát triển phù hợp với thế mạnh ở từng vùng, từng địa phương, ngành nông nghiệp cần quy hoạch vùng trồng hữu cơ quốc gia như vùng nông nghiệp hữu cơ ôn đới, vùng nông nghiệp hữu cơ nhiệt đới, vùng nông nghiệp hữu cơ dược liệu phù hợp với khu vực, đơn vị đầu tư, cũng như bảo đảm thị trường tiêu thụ, xuất khẩu.
Trước những đòi hỏi tất yếu về phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn Trần Thanh Nam cho biết: Dự thảo nghị định về Nông nghiệp hữu cơ hiện được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, doanh nghiệp, đơn vị sản xuất nông nghiệp hữu cơ nhằm bảo đảm khi được ban hành, nghị định với thực tế, có tính định hướng và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hữu cơ trong nước, bắt kịp xu thế sản xuất nông nghiệp trên thế giới.
Theo Thứ trưởng Trần Thanh Nam, việc tổ chức chứng nhận sản phẩm hữu cơ được thực hiện xã hội hóa dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước. Ngoài các quy định về việc kiểm tra chất lượng sản phẩm hữu cơ, xử phạt vi phạm hành chính trong sản xuất hữu cơ, dự thảo nghị định cũng tập trung vào nhiều chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp hữu cơ; trong đó có một số chính sách đặc thù như hỗ trợ không quá 50% cho hợp tác xã, trang trại, hộ gia đình đầu tư sản xuất nông nghiệp hữu cơ tùy theo vùng, khu vực.
Nguyễn Xuân Dự