Góp phần “làm mới” thơ lục bát

Đinh Thiên Hương 27/01/2024 18:08

(HPĐT)- Nhà thơ Nguyễn Lâm Cẩn, sinh năm 1944, hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng và Hội Nhà văn Hà Nội, sáng tác hàng nghìn bài thơ lục bát và xuất bản nhiều tập thơ. Mấy chục năm qua, ông luôn nỗ lực góp phần đổi mới thơ lục bát– một trong những thể thơ thuần Việt, dễ làm nhưng khó hay.

Nhà thơ Nguyễn Lâm Cẩn với các tác phẩm của mình. Ảnh: Bùi Dung

Sự đổi mới ấy, trước hết thể hiện ở mở rộng phạm vi đề tài, dồn nén những chất chứa ưu tư và triết lý, triết luận. Ví như đề tài về cụ Nguyễn Du, mà ông có hàng chục bài. Nội chỉ gọi cụ Nguyễn Du, mà nhà thơ có tới 2 bài “Nguyễn Du ơi”, “Tố Như ơi”, nhưng bài thì “Nghìn năm sau Tố Như ơi/ Vẫn dư nước mắt khóc đời trầm luân”, bài thì “Hoe hoe giọt lệ lưng tròng/ Hai trăm năm khóc đau lòng cố nhân”. Tác giả thức “Đêm trên quê Nguyễn Du”, “Đứng trước mộ Nguyễn Du”, trò chuyện “Với cụ Tố Như”, nửa đêm thấy Nguyễn Du ngồi như tượng “trước trang viết Truyện Kiều”: “Ông ngồi/ Như nát/ Như ta/ Ai đem đày giữa trần gian kiếp người?/ Bút lông quệt máu còn tươi/ Đêm đen gằn một tiếng cười/ Rồi câm!”.

Hay như đề tài rượu- thú ẩm thực của bao người và muôn đời, nhưng qua mạch cảm hứng trữ tình của 59 bài trong tập “Rượu thi nhân”, thì thấy không bài nào lặp ý tứ, câu chữ, đầy dư vị.

Nguyễn Lâm Cẩn quê ở Nghệ An, nhưng có tới hơn nửa thế kỷ gắn bó với Hải Phòng. Từng là Hiệu trưởng Trường THCS Dư Hàng Kênh (quận Lê Chân), ông tham gia nhiều khóa bồi dưỡng phương pháp dạy văn, hướng dẫn giảng dạy giáo viên các trường học trên địa bàn thành phố và bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi Văn thành phố tham dự kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia. Có lẽ bởi sự gắn bó ấy mà trong thơ ông không thiếu những vần thơ đầy xúc cảm về thành phố Cảng. Đó là, Hải Phòng nồng nàn, bỏng cháy trong “Hải Phòng nhớ”: “Ơi nào sông Lấp, cầu Tre/ Em đừng đốt đỏ suốt hè/ Phượng ơi/ Khi ta đã cháy lên rồi/ Tàn bay hóa rượu rót mời ngả nghiêng/ Hải Phòng nuôi mảnh trời riêng/ Mắt em thắp ngọn lửa thiêng thánh thần”. Hay Hải Phòng đầy nhớ nhung, khắc khoải trong “Với Hải Phòng”: “Phượng chưa đốt lửa đỏ đèn/ Vòm xanh mượt khoảng Nhà Kèn ta qua/ Bao giờ phượng cháy đường hoa/ Hải Phòng gọi nhớ/ Lòng xa bồn chồn”.

Gần đây, ông thành công và thể hiện tài hoa qua những chuyến thực tế sáng tác ở những miền quê khác. Mỗi chuyến đi về, đều để lại dấu ấn bằng tập thơ mà cán bộ, người dân mỗi địa phương trân trọng đón nhận. “Lâm Bình nơi tôi đến”, “Mường La ngẫu hứng”, mỗi tập thơ như vụ “thâm canh”, bội thu và tập nào cũng có nhiều bài lục bát, với nhiều trạng huống và tâm cảnh. Còn khi viết về thầy, cô giáo và bạn bè, thơ lục bát của ông trước sau vẹn chữ tình giàu đạo lý. Nhà thơ luôn kính quý đạo đức, nhân cách của người giáo viên. Hãy tin vào điều đó, qua những bài thơ, câu thơ ông viết về những người thầy đích thực là thầy: “Trời còn đây/ Đất còn đây/ Trong con còn một người thầy/ Thầy ơi”, “Chân con vẹt đất trăm nơi/ Thấm mưa nát đất/ Thấm trời nắng chang/ Lời thầy canh cánh con mang/ Cho dù bị gậy lang thang chợ đời” (về thầy Nguyễn Thúc Chuyên); “Đời con đội nắng dầm mưa/ Đạo thầy cho vẫn như vừa đâu đây” (về thầy Phạm Bá)…

Tuy nhiên, độc đáo nhất, thành công nhất của nhà thơ Nguyễn Lâm Cẩn khi làm mới, mở rộng phạm vi đề tài, là những rung ngân, nỗi niềm và cảm khái thời thế. Càng về sau, thơ lục bát của ông càng trĩu nặng ưu tư. Qua mấy tập “Rượu thi nhân”, “Ngưỡng vọng”, “Khoảng lặng”, “Lời cha dặn”… nhà thơ trở đi trở lại với khái niệm kiếp người, quan tâm tới những số phận không may mắn, éo le ngang trái, cay đắng nghiệt ngã.

Cái hay trong lục bát của Nguyễn Lâm Cẩn còn nằm ở sự tinh tế, tài hoa về chữ nghĩa, hình ảnh và vần nhịp. Ở đây, chỉ xin nói về ngắt nhịp, tách dòng lục bát của nhà thơ. Tùy theo nội dung hiện thực và trạng huống mà ông vừa tuân theo nhịp điệu phổ biến truyền thống của thể thơ là sự cân đối, hài hòa; vừa phá vỡ nhằm tạo ra nhiều loại nhịp, bằng cách thêm tiếng, thêm chữ và ngắt dòng thơ. Ông ý thức tạo ra những chuẩn mực mới về nhịp điệu của thể thơ này, khiến người yêu thơ nhìn vào dòng thơ, bài thơ thấy khác diện mạo, chính xác nội dung biểu đạt và tăng cường giá trị biểu cảm. Đọc bất kỳ bài lục bát nào có cách ngắt nhịp, ngắt dòng này, cũng thấy điều đó. “Mơ hầu rượu Tản Đà” là một ví dụ: “Xin hầu cụ uống say sưa/ Trời cao/ Nắng!/ Phận thấp/ Mưa!/ Xá đời!.../ Uống cho cô độc thành đôi/ Đau thì dốc cạn/ Buồn trôi vào lòng”. Bằng cách ngắt nhịp, ngắt dòng, ông vừa diễn tả hớp rượu ngắc ngứ bi phẫn, vừa ngầm đồng cảm và thán phục cái ngông bất cần của thi nhân. Đến Ghềnh Ráng, nhà thơ dùng cặp 6/8 của lục bát, nhưng tách ra thành 6 dòng thơ, có dòng chỉ một tiếng: “Sóng Ghềnh/ Vỗ/ Đập/ Xô/ Va…/ Trăng xanh vỡ vụn trong tà áo xuân”, thì mỗi tiếng, mỗi dòng thơ ấy là một trạng thái của tạo vật gợi sự dữ dằn, chát chúa, gợi tả phận người, lắm truân chuyên…

Thơ lục bát của Nguyễn Lâm Cẩn có lối tạo tứ, cấu trúc, bố cục, thi ảnh, ngôn từ, motip nghệ thuật, các biện pháp tu từ…rất ca dao, rất dân gian. Nhờ thế mà nó uyển chuyển, biến hóa linh hoạt, trong trẻo, tinh tế, duyên dáng, lưu loát và đậm chất nhân văn – kể cả khi triết luận, triết lý. Cho nên, ngay cả khi nhà thơ dùng tư liệu, công cụ của cộng đồng, cũng lấp lánh tài hoa riêng. Về phương diện này, nhà thơ công phu, kiên trì và sáng tạo, đạt được những thành tựu đáng trân trọng./.

Đinh Thiên Hương
(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Góp phần “làm mới” thơ lục bát