(HPĐT)- "Hai ngày và mãi mãi" của nhà văn Cao Năm (nguyên phóng viên Báo Hải Phòng) là tiểu thuyết sự kiện kịch sử tái hiện lại 2 ngày cán bộ, nhân dân Hải Phòng được vinh dự đón Hồ Chủ tịch sau khi Người đi thăm nước Pháp trở về Tổ quốc. Đưa cảm xúc của chính nhân vật hòa vào mạch truyện, nhà văn Cao Năm đắp dầy thêm phần sự kiện là lịch sử Hải Phòng những ngày tháng đặc biệt ấy. Nhân kỷ niệm 66 năm Ngày giải phóng Hải Phòng, Báo Hải Phòng trích đăng một phần nội dung của Phần 8 cuốn tiểu thuyết này. Đây là phần tập trung khai thác thời gian Bác dự nghi lễ đón tiếp Bác ngày 20-10-1946 ở Bến Ngự tại Cảng Hải Phòng trước sự mong chờ của bao người dân thành phố. Và nghĩa tình của Bác với gia đình doanh nhân Nguyễn Sơn Hà và người bạn già từng cùng Bác làm việc trên con tàu của hãng "Vận tải hợp nhất" chạy đường Pháp - Đông Dương, những năm đầu thế kỷ 20. Kính mời bạn đọc quan tâm theo dõi.

…Thứ trưởng bộ nội vụ Hoàng Hữu Nam báo cáo ngắn gọn với Hồ Chủ tịch về nghi lễ đón tiếp diễn ra ngay trên Bến Ngự, chỉ lát nữa thôi. Bác nghe chăm chú, khi thấy có nhiều nghi thức, nào là chào cờ, duyệt binh, lại còn tặng hoa, chào hỏi, đã từ tàu lên bến rồi lại xuống tàu, Bác bảo: "Đơn giản thôi, đừng để mọi người đứng ngoài bến cảng thế kia mãi". Hồ Chủ tịch vừa dứt lời, hạm trưởng Ô-nây trang trọng đứng nghiêm, đưa tay lên mũ chào tiễn biệt. Hồ Chủ tịch chào đáp lễ trung tá, hạm trưởng, và cũng là chào từ biệt sĩ quan, thủy thủ trên thông báo hạm Đuy-mông Đuyếc-vin sau 45 ngày đêm cùng Bác lênh đênh qua mấy đại dương. Đoạn, Bác quay sang nói với Hoàng Hữu Nam, Nguyễn Xuân Nguyên, Đép-bơ, và những người có mặt trong khoang tàu: "Nào, chúng ta lên bờ!". Rồi Bác bước nhanh đi trước. Khi thấy Bác trong bộ ka-ki bạc trắng với dáng chủ động, nhanh nhẹn bước lên cầu tàu, lập tức mọi người trên bến như bỗng vỡ òa tiếng reo hò, tiếng vỗ tay và dậy vang tiếng hô: "Hồ Chủ tịch muôn năm!", "Hồ Chủ tịch muôn năm!"... Cảng Bến Ngự như cuộn trào sóng vỗ, mà có lẽ từ ngày lập bến đến nay chưa bao giờ sôi động, nhộn nhịp trào dâng đến thế.
Khi Hồ Chủ tịch vừa bước chân lên bến, lễ đón tiếp lập tức được cử hành. Hai mươi mốt phát đại bác ầm vang trên bến cảng. Quốc thiều hai nước Việt Nam và Pháp vang lên. Sau lễ chào cờ, Hồ Chủ tịch cùng ban đón tiếp của thành phố và đại diện chính phủ, mặt trận Việt Minh Trung ương đi duyệt đội danh dự quân đội quốc gia Việt Nam và quân đội Pháp. Đội danh dự Quân đội quốc gia Việt Nam trong quân phục giản dị màu xanh, đội mũ ca lô, súng cắm lưỡi lê, nghiêm trang chào đón Hồ Chủ tịch. Đội danh dự quân đội Pháp trong lễ phục màu trắng, lá cờ ba sọc cầm tay hạ ngang chào Hồ Chủ tịch. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, đội danh dự quân đội hai nước Việt Nam và Pháp cùng đứng trên một địa điểm, cùng nghe cử hành quốc thiều hai nước, cùng trang nghiêm đứng chào Vị nguyên thủ quốc gia, lại là quốc gia mà mới cách đây một năm hai tháng còn bị đặt dưới cái gọi là "liên hiệp Pháp". Thật là sự kiện có một không hai trong lịch sử, kể từ năm 1870, Pháp đặt chân chiếm Nam kỳ, và năm 1872, Pháp mang quân ra chiếm Hải Phòng.
Sau nghi lễ, Hồ Chủ tịch đi chào và cảm ơn đại biểu đại diện các cơ quan trung ương, các tỉnh, thành phố và đồng bào Hải Phòng không quản nắng gió, có người ở xa hàng ngày đường vẫn về Hải Phòng ăn đợi nằm chờ mấy ngày nay để được đón Bác Hồ. Hai cháu thiếu nhi áo trắng, quần xanh ôm hoa đến tặng Bác Hồ kính yêu. Bác nhận hoa, ôm hôn các cháu. Rồi lại tiếp tục đi chào các đại biểu và nhân dân ra đón. Bác đi đến đâu, mọi người rưng rưng vẫy tay và hô vang khẩu hiệu chào đón Bác đến đấy. Hồ Chủ tịch nét mặt tươi cười, đưa tay chào mọi người mà lòng dạt dào xúc động. Nhất là khi chiếc xe ô tô con màu đen mang biển số V8 mở cửa, giây phút chia tay đã đến, Hồ Chủ tịch chỉ đưa tay lên vẫy vẫy tạm biệt mọi người, Bác và những người ra đón đều rưng rưng xúc động, không cất lên lời.
Rồi suốt từ Bến Ngự qua phố Trần Phú, Nhà hát Lớn, sang đại lộ Hồ Chí Minh, vào ngõ Nghè (1). Đến đâu nhân dân cũng đứng chật hai bên đường phất cờ, vẫy tay reo hò, hoan hô vang dậy, chào đón Bác Hồ và các đại biểu cùng đi. Có lúc như xe của Bác và các đại biểu đang chuyển động giữa hai "bức tường người", với những tiếng hò reo và cờ hoa nghìn nghịt hai bên đường phố, giữa không khí tưng bừng, náo nhiệt trong trật tự, trang nghiêm. Suốt con đường dài hàng cây số từ Bến Ngự về trụ sở ủy ban hành chính thành phố ở ngõ Nghè, hàng chục vạn nhân dân Hải Phòng và các tỉnh lân cận đổ về đón Bác, mỗi khi xe Bác đi qua đều tưng bừng chào đón trong trật tự, hân hoan.
……….
Sau giây phút Hồ Chủ tịch và những người cùng đi nghỉ ngơi, rửa mặt mũi, tay chân, chủ tịch thành phố, bác sĩ Nguyễn Xuân Nguyên và phó chủ tịch Vũ Quốc Uy mời Bác và mọi người dùng bữa ăn nhẹ. Vì lúc này cũng đã đến giờ ăn chiều, và sau đây chỉ hơn tiếng nữa là diễn ra tiệc chiêu đãi của ủy ban thành phố. Mọi người vui vẻ sang phòng bên, nguyên là nơi làm việc của anh em văn phòng ủy ban, giờ kê gọn bàn ghế làm hai dãy. Phòng nhỏ, nhưng vẫn đủ chỗ ngồi, vì các đại biểu trung ương lúc chiều xuống bằng ô tô goòng, sau lễ đón Bác ở Bến Ngự xong, phần đông đã ra ga về Hà Nội, kẻo đêm tối xe goòng khó đi. Vừa đi sang phòng ăn bên cạnh, Bác vừa hỏi Vũ Quốc Uy:
- Các chú hỏi nhà ai cho vợ chồng ông phái viên nghỉ?
Uy trả lời ngay:
- Dạ, nhà vợ chồng ông Hà ạ.
Bác hỏi lại:
- Chú nói ông Hà nào? Có phải Nguyễn Sơn Hà khi thành lập chính phủ liên hiệp, ta định đưa ra giữ chức bộ trưởng bộ kinh tế, nhưng ông ấy không nhận; sau đó trong "tuần lễ vàng" đã ủng hộ chính phủ một trăm linh năm lạng vàng có đúng không?
- Dạ, đúng vợ chồng ông Hà ấy đấy ạ!
- Ông cũng là một trong ba đại biểu quốc hội của Hải Phòng nữa nhỉ!
- Vâng ạ!
- Bà vợ ông Hà là Nguyễn Thị Ngọc Mùi, còn làm trong ủy ban thành phố nữa không?
- Bà Ngọc Mùi chỉ tham gia ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời hồi mới giành chính quyền. Vừa rồi củng cố lại thì bà Ngọc Mùi không tham gia ủy ban hành chính nữa, mà chuyển sang công tác xã hội của thành phố ạ.
- Đại đội tự vệ do cậu con trai ông bà Hà lập ra còn hoạt động không?
- Dạ, còn ạ!
- Thế là tốt! - Bác dừng lại giây lát, rồi nói thêm - Các chú bố trí vợ chồng ông phái viên ở đấy là an tâm rồi.
Dù bị hỏi bất ngờ, nhưng Uy lại thấy vui khôn xiết. Vì Bác Hồ bận trăm công nghìn việc, lần đầu đặt chân tới thành phố, lại mới có mấy tiếng đồng hồ, và cũng chỉ mới nói tới một nhà dân của thành phố thôi, nhưng Bác đã biết khá kỹ về gia đình ấy. Anh đang vẩn vơ nghĩ, thì lại nghe tiếng Bác chậm rãi bảo:
- Ông Tuy-tan hồi Nhật đảo chính Pháp ở Hải Phòng, cũng tý nữa thì nguy. May gặp một bà, mà theo ông ấy nói thì bán hàng nước ở gần sở ông ấy. Bà này dẫn ông ấy về nhà giấu mấy tháng trời. Chuyến này dẫn cả vợ sang là cũng có ý tìm gặp người đã cứu mình hồi trước đấy. Các chú xem nếu ông ấy nhờ, thì cho người tìm giúp cho chu đáo nhá!
Uy liền "Vâng ạ", rồi xởi lởi nói:
- Hồi Nhật đảo chính Pháp, chỉ trong nội thành có tới hàng nghìn binh lính, viên chức người Pháp trốn tránh trong nhà dân. Đứa may mắn thì trốn được trong nhà người dân Pháp, đứa không may cũng vào được nhà người dân ta rộng lòng thương chở che, chứ ít đứa gặp rủi ro, không nơi che chở. Ngay cả những đứa lên được hai chiếc tàu Pi-gơ-grơ và Gray-xắc chạy ra vịnh Hạ Long, về sau nhiều đứa không chịu được cảnh đói khát, bỏ tàu tìm đường về Hải Phòng, vẫn được bà con ta cưu mang. Sau Tổng khởi nghĩa, chính quyền thành phố tạo mọi thuận lợi cho họ trở về nước. Nên bây giờ, ông phái viên chính phủ, chứ sĩ quan, binh lính hay viên chức người Pháp nào muốn trở lại Hải Phòng thăm chốn cũ, người xưa thì chính quyền thành phố cũng sẵn sàng tạo điều kiện để họ được toại nguyện.
Trong phòng ăn, hai dãy bàn kê liền nhau, mỗi bàn ngồi dăm bảy người. Bữa ăn cũng giản dị, mỗi người một bát phở gà và cái bánh mì. Ăn xong có chuối tiêu tráng miệng. Vừa ăn, Bác vừa nói với Vũ Quốc Uy và Nguyễn Xuân Nguyên:
- Thành phố các chú cũng còn nhiều khó khăn, tài chính lại eo hẹp. Sao các chú lại tổ chức đón Bác linh đình thế thì tốn biết bao tiền bạc của dân? Làm gì cũng phải chi tiêu cho tiết kiệm, vì mỗi đồng tiền nhà nước chi ra đều do dân đóng góp. Thế mà trên đường về đây, Bác thấy cờ hoa, biểu ngữ căng khắp phố, còn người thì đông như hội, lại có cả bà con như ở mãi ngoại thành cũng vào, thì tốn biết bao thì giờ, công sức. Bác là chủ tịch nước thì cũng là công bộc của dân, chứ sao các chú lại tổ chức nhân dân đi đón Bác rầm rộ như đón vua chúa ngày xưa thế?
Nguyễn Xuân Nguyên thưa với Bác:
- Đấy là nhân dân kính yêu Bác, nên tự giác sắm cờ hoa, biểu ngữ và rủ nhau đi đón Bác. Chứ thành phố chúng cháu chỉ thông báo cho dân biết ngày giờ Bác về tới cảng thôi ạ.
Vũ Quốc Uy bổ sung thêm:
- Đúng như anh Nguyên nói đấy ạ. Nhưng cháu xin được báo cáo thêm là ngoài việc nhân dân kính yêu Bác, mong được thấy Bác trở về mạnh khỏe, thì thành phố cũng có chủ trương, nhân sự kiện này mà biểu dương sức mạnh đoàn kết các tầng lớp nhân dân, thể hiện ý chí, nguyện vọng của toàn thể quân dân Hải Phòng đồng tâm, đồng sức, đồng lòng ủng hộ chính phủ Hồ Chí Minh, bảo vệ chế độ mới, bảo vệ chính quyền cách mạng, chứ không hoàn toàn là do dân tự phát đâu ạ.
Nghe Vũ Quốc Uy nói chủ trương của thành phố, Bác tươi cười, bảo:
- Biểu dương sức mạnh đoàn kết các tầng lớp nhân dân thế là tốt! Nhưng vẫn cần chú ý đơn giản và tiết kiệm, đừng để lãng phí tiền bạc và thì giờ của dân.
Vũ Quốc Uy cảm động thưa:
- Dạ, chúng cháu cố gắng làm theo lời dạy của Bác!
Rời phòng ăn, mọi người trở lại căn phòng rộng bên cạnh, dành cho Bác nghỉ và tiếp khách, để vừa nước nôi, vừa trò chuyện. Uy báo cáo với Bác chương trình tối nay và ngày mai. Đến buổi tiệc tối nay, Bác bảo:
- Các chú phải cho mời sĩ quan thông báo hạm Đuy-mông Đuyếc-vin đấy nhá!
- Chúng cháu mời rồi ạ!
- Bằng giấy hay trực tiếp?
- Cả bằng giấy và trực tiếp. Vì ủy ban thành phố đã cử ủy viên phụ trách đối ngoại xuống tàu, gặp hạm trưởng để đưa giấy mời. Cả giấy mời chỉ huy trưởng quân đội Pháp ở Hải Phòng, đại tá Đép-bơ cũng thế ạ.
- Thế là tốt. Lúc này ta cần thêm bạn, bớt thù. Tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của bất cứ ai đối với nền độc lập, tự do, thống nhất của nước nhà cũng rất nên tranh thủ.
Dừng lại giây lát, Bác quay sang hỏi Uy:
- Bác nghe nói, các chú định tổ chức giao hữu bóng đá giữa đội Hải Phòng với thủy thủ tàu Đuy-mông Đuyếc-vin nữa à?
Uy nói ngay:
- Dự kiến chiều mai có trận bóng đá giao hữu giữa đội thể thao thanh niên Hải Phòng và đội thủy thủ tàu Đuy-mông Đuyếc-vin. Sau đó, đội chủ nhà trao quà kỷ niệm và mời thủy thủ tàu thăm một số danh thắng ở nội thành.
Bác cười và nhìn mọi người, bảo: "Nên như thế".
Bác vừa dứt lời, thì có bảo vệ từ dưới nhà hớt hải đi lên, nhưng chưa dám vào, còn đứng thập thò ngoài cửa. Thấy thế, Ngọ vội đi ra. Người bảo vệ nói ngay: "Ở dưới nhà có một cháu nhỏ dắt ông lão hỏng mắt đến, cứ nhất định đòi gặp Hồ Chủ tịch". Ngọ thoáng chút lưỡng lự, vì biết, theo chương trình, sau bữa ăn vừa diễn ra thì không tiếp khách nữa, để Bác có thì giờ nghỉ ngơi, sau những ngày ngồi tàu lênh đênh trên biển. Nhìn thấy Ngọ và người bảo vệ đứng lâu ngoài cửa, Uy ở trong nhà cũng cảm thấy có chuyện gì, vội đi ra. Ngọ nói ngay: "Dưới nhà đang có đứa cháu dắt ông đến muốn gặp Hồ Chủ tịch, anh ạ". Uy chưa kịp nói gì, vì cũng thấy tình huống thật khó xử, thì đã thấy lối cầu thang lên tầng hai, đứa cháu trai chừng mười ba, mười bốn tuổi dắt tay ông già chừng ngoài sáu mươi, cao gầy, vận chiếc áo ba-đờ-suy màu cỏ úa dài xuống dưới đầu gối, đang lần lần từng bước lên cầu thang. Uy vội bảo Ngọ, và như nói với cả người bảo vệ: "Thôi, để ông cháu ông lão lên". Rồi anh bước rảo về phía cầu thang, đưa tay ra cùng đứa cháu dắt ông cụ đi theo hành lang vào phòng. Vừa lúc Hồ Chủ tịch nhìn ra hành lang, nhận ngay ra ông lão. Bác vội đứng dậy, đi nhanh ra ngoài hành lang, đưa tay ra dắt ông lão và gọi như reo:
- Anh Mai!
Đấy là tên gọi của ông từ những ngày hai người còn làm trên con tàu của hãng "Vận tải hợp nhất" chạy đường Pháp - Đông Dương, những năm đầu thế kỷ 20. Ông già nhay nháy mắt như cố nhận biết tường tận người vừa gọi đúng tên mình từ những ngày còn làm trên tàu vẫn gọi. Nhưng đôi mắt đã không giúp ông nhìn được tường tận người mà bao lâu nay ông vẫn hằng mong nhớ. Chỉ có đôi tai thính nhạy là giúp ông phân biệt rõ mồn một tiếng nói của người đang nắm tay dắt mình vào phòng, ấm cúng và xúc động đến trào nước mắt, khi nghe tiếng gọi "Anh Mai!". Và không chỉ bây giờ, mà ngay từ chiều, khi ông bảo đứa cháu dắt ra đầu phố đứng trong đám bà con ra đón đoàn xe chở Hồ Chủ tịch đi qua, ông đã lắng nghe được tiếng người bạn ngày xưa nói qua loa phóng thanh truyền đi khắp thành phố. Còn giờ đây, sau mấy giây rưng rưng xúc động, ông nghẹn ngào cất tiếng:
- Thưa Hồ Chủ tịch...
Nhưng không để ông nói hết câu, Bác Hồ vừa kéo ghế mời ông ngồi, vừa cất giọng chân tình:
- Anh Mai, anh cứ gọi tôi là Ba, hay Văn Ba như ngày xưa, anh nhá!
Ông lão rưng rưng nhìn Bác Hồ như định nói gì, nhưng không thể cất lên thành lời. Thì đã nghe tiếng Bác ôn tồn chậm rãi:
- Tôi bây giờ là Chủ tịch nước, nhưng cũng chỉ là tôi tớ của nhân dân. Tôi với anh trước sau vẫn là bạn của nhau. Sau này, anh nên bảo cháu viết thư gửi cho tôi luôn, anh Mai nhé!
Bác nói xong lại ngắm nhìn ông bạn già từ đầu đến chân, rồi bỗng nói như reo lên:
- Anh vẫn còn giữ được tấm áo này đấy ư, anh Mai?
Rồi cả Bác và ông bạn già như cùng xôn xao kỷ niệm. Im lặng đến mươi giây. Cả hai như cùng nhớ lại cái lần tàu đến cảng Ha-vơ-rơ (Pháp). Văn Ba thì lên bờ ở lại Pháp. Còn Mai thì theo tàu đi tiếp. Phút chia tay thật xúc động. Bởi Ba không thể nào quên lần đầu bước chân xuống tàu ở bến cảng Sài Gòn, trước con mắt ngỡ ngàng của nhiều thủy thủ trên tàu. Nhưng có một người, đấy là Mai, lại sốt sắng bảo: "Anh đi theo tôi. Tôi dẫn anh đến gặp ông chủ tàu. Có lẽ ông ta sẽ có việc cho anh làm chăng". Và quả nhiên, người chủ tàu chỉ sau câu hỏi đầu tiên: "Anh có thể làm được việc gì trên tàu?". Và Văn Ba cũng chỉ trả lời câu đầu tiên: "Tôi có thể làm bất cứ việc gì, thưa ông". Thế là người chủ tàu không do dự, nói ngay: "Được. Ta nhận anh vào làm phụ bếp trên tàu. Sáng mai anh xuống tàu nhận việc, anh bạn trẻ nhá!". Quả là cái thuở ban đầu chan chứa tình người ấy, dễ tới nghìn năm sau cũng không thể nào quên. Nên khi chia tay nhau người ở lại, người ra đi trên bến cảng Ha-vơ-rơ, cũng vào một ngày đầu mùa đông như thế này, Ba đã cởi tấm áo dạ màu cỏ úa đang mặc trên người ra, khoác lên vai tặng bạn như một kỷ vật, rồi hai người ôm nhau rưng rưng nước mắt. Sau ba mươi nhăm năm (1911 - 1946), giờ nghe bạn hỏi: "Anh vẫn còn giữ được tấm áo này đấy ư?", ông Mai vô cùng xúc động. Mấy lần ông mấp máy môi định nói, làm sao tôi có thể rời xa tấm áo này được. Dù trước còn làm trên tàu, hay từ khi tàn tật trở về quê quán, khi no cũng như khi đói, tấm áo vẫn luôn ở bên tôi. Mỗi lần nhìn tấm áo là như lại được nhìn thấy anh đấy, anh Ba ạ! Thế nên mấy hôm nay, nghe tin anh đi thăm nước Pháp về bằng đường thủy cập bến cảng Hải Phòng, tôi lấy tấm áo vẫn cất kỹ trong hòm ra phơi phóng, chỉ đợi ngày anh về là mặc tấm áo này đi gặp anh thôi, anh Ba ơi. Nhưng niềm vui gặp lại như muốn trào nước mắt, làm ông Mai không thể nói nên lời. Còn đứa cháu dắt ông đến đây cũng chỉ biết đứng cạnh ông bùi ngùi xúc động. Cả hai ông cháu cụ Mai đều im lặng, lắng nghe Hồ Chủ tịch đang nói với những người chung quanh:
- Khi lần đầu Bác bước chân lên tàu để đi sang nước Pháp và các nước khác xem họ làm như thế nào, Bác may mắn gặp cụ Mai đây và được giúp đỡ tận tình. Cũng nhờ có cụ Mai mà Bác được nhận xuống tàu và nhanh chóng làm quen với công việc phụ bếp trên tàu. Ba mươi nhăm năm giờ mới gặp nhau, lại vào lúc nước nhà đang trong hoàn cảnh khó khăn, Bác chưa thể giúp được gì cho người bạn già đang bị tàn tật của mình. Bác nhờ các chú ở thành phố quan tâm giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần cho cụ Mai, và cả những người dân trong thành phố còn bị tàn tật đều được chăm sóc sức khỏe, giảm bớt khó khăn trong cuộc sống. Sau này, khi nước nhà bình yên, kinh tế phát triển thì những người tàn tật, già cả neo đơn như cụ Mai đây, phải được nhà nước đưa vào kế hoạch chăm sóc, giúp đỡ chu đáo.
Uy đứng lên định hứa với Bác, tới đây chính quyền thành phố cố gắng làm tốt việc chăm sóc những người tàn tật, neo đơn; nhưng dường như hiểu ý, Bác ra hiệu bảo anh ngồi xuống. Rồi Bác chủ động đến bên người bạn già, đưa cả hai tay ra ôm lấy hai vai bạn. Nhìn nét mặt Bác thấy hiện rõ sự bùi ngùi, xúc động phút chia tay. Nhưng cả Bác và người bạn già cứ đứng ôm vai nhau như thế. Im lặng đến mươi giây. Rồi cụ Mai như cảm thấy người bạn quý của mình còn nhiều việc hệ trọng, và cuộc gặp thế này cũng đã là toại nguyện, liền đưa tay ra lần lần cầm tay Bác Hồ, ôn tồn, xúc động nói:
- Kính chúc Hồ Chủ tịch an khang, mạnh khỏe để lãnh đạo nhân dân ta mau tới thắng lợi hoàn toàn!
Bác nắm tay cụ Mai, lắc lắc:
- Anh lại nhà chú ý giữ gìn sức khỏe nhá. Nhất định chúng ta còn gặp lại nhau, anh Mai ạ! (2)
Rồi Bác quay sang xoa đầu cháu Tự, dặn:
- Cháu đưa ông về nhá. Nhớ đi đường cẩn thận cháu ạ.
Những người có mặt trong phòng lúc ấy không ai nén được xúc động, trước giây phút chia tay ngập tràn tình cảm thắm thiết, thủy chung giữa Bác Hồ và người bạn già, sau ba mươi nhăm năm gặp lại…
(Trích Phần 8, tiểu thuyết "Hai ngày và mãi mãi" của nhà văn Cao Năm, NXB Hội Nhà văn năm 2014)
__________________
1. Nay là các phố Hoàng Văn Thụ, Cầu Đất, Lê Chân.
2. Quả nhiên, sau khi Hải Phòng giải phóng (13-5-1955) chưa được ba tuần, thì ngày 31-5, Bác Hồ về thăm thành phố, gặp lại người bạn già tình nghĩa thủy chung năm xưa. Sau đó, Bác đưa cụ lên Hà Nội khám và chữa bệnh, rồi ở lại trên đó. Khi người bạn già qua đời, Bác Hồ đứng ra lo việc hậu sự cho cụ hết sức chu đáo.