Danh hiệu 'Trung dũng - Quyết thắng' không phải tự nhiên mà có, đó là đúc kết từ máu, mồ hôi và sự hy sinh thầm lặng của biết bao thế hệ người dân đất Cảng.

Kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Hải Phòng có cuộc trao đổi với Tiến sĩ, Nhà sử học Đoàn Trường Sơn về những đóng góp mang tính chiến lược của thành phố Cảng "đầu sóng ngọn gió", nơi khởi đầu của những huyền thoại trên biển.
- Thưa ông, trong các trang sử kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Hải Phòng thường được nhắc đến với vị trí chiến lược đặc biệt. Ông có thể phân tích rõ hơn tại sao Hải Phòng lại được coi là "cửa ngõ" quyết định vận mệnh của cả chiến trường miền Nam trong giai đoạn này?
- Những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước, thành phố Hải Phòng có cảng biển, cửa khẩu giao thương quốc tế lớn nhất và duy nhất của Việt Nam. Sự viện trợ của bạn bè trên thế giới bằng đường biển đều cơ bản qua đây.
Sau đó, từ Cảng Hải Phòng, hàng hóa, vũ khí, lương thực theo đường bộ, đường sắt và đường Hồ Chí Minh trên biển… đi khắp miền Bắc và chiến trường miền Nam. Theo nhiều tài liệu hiện còn, trong suốt những năm tháng kháng chiến, Hải Phòng tiếp nhận tới hơn 80%, có giai đoạn lên đến 90% tổng lượng hàng hóa, vũ khí, khí tài từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em chi viện cho Việt Nam.
Mỹ thừa hiểu muốn bóp nghẹt cuộc kháng chiến ở miền Nam, trước hết phải cắt đứt "cuống họng" Hải Phòng. Vì vậy, thành phố Cảng trở thành mục tiêu đánh phá trọng điểm, ác liệt nhất của không quân và hải quân Mỹ tại miền Bắc.
Chúng đã rải hơn 1.700 quả thủy lôi và bom từ trường xuống các cửa sông, cửa biển Hải Phòng, nhằm biến nơi đây thành "vùng biển chết", cô lập hoàn toàn nước ta với thế giới.
Tuy nhiên, chính trong lửa đạn, bản lĩnh của quân và dân đất Cảng luôn tỏa sáng. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ khi Người về thăm: "Hải Phòng có vị trí rất quan trọng về kinh tế và quốc phòng... Các cô, các chú phải làm cho Hải Phòng trở thành một thành phố gương mẫu", toàn thành phố chuyển mình thành một "pháo đài thép". Công nhân Cảng vừa bốc xếp hàng dưới làn bom, vừa trực chiến; lực lượng tự vệ rà phá thủy lôi thông luồng cho tàu vào bến. Đó không chỉ là bảo vệ một thành phố mà là bảo vệ nguồn sống cho cả tiền tuyến lớn miền Nam.

- Nói đến đóng góp của Hải Phòng cho sự nghiệp thống nhất đất nước, không thể không nhắc đến "Đường Hồ Chí Minh trên biển". Tầm vóc của con đường này và vai trò của Bến K15 (Đồ Sơn) có ý nghĩa như thế nào trong Đại thắng mùa Xuân năm 1975, thưa ông?
- Đây là một trong những trang chói lọi và sáng tạo nhất trong lịch sử quân sự thế giới. Nếu đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn là biểu tượng của sức mạnh ý chí, thì đường Hồ Chí Minh trên biển là biểu tượng của sự mưu trí, quả cảm vô song. Và Hải Phòng chính là "trái tim" của con đường huyền thoại ấy.
Bến K15 dưới chân núi Đồ Sơn đã đi vào lịch sử với danh hiệu "Cột cây số 0". Đêm 11/10/1962, tàu Phương Đông 1 do thuyền trưởng Lê Văn Một chỉ huy lặng lẽ rời bến K15, chở 30 tấn vũ khí cập bến Vàm Lũng (Cà Mau) an toàn sau 5 ngày đêm vượt sóng dữ và mạng lưới kiểm soát dày đặc của địch. Sự kiện này chính thức khai thông tuyến vận tải chiến lược trên biển Đông.
Từ "bệ phóng" Hải Phòng, hàng trăm chuyến tàu không số của Đoàn 125 Hải quân đã xuất kích. Dù phải đối mặt với bão tố và những tình huống ngặt nghèo khi phải tự hủy tàu để giữ bí mật, những người con Hải Phòng cùng các chiến sĩ hải quân đã đưa hàng nghìn tấn vũ khí, đạn dược, thuốc men vào những chiến trường xa xôi nhất mà đường bộ không thể tiếp cận kịp thời như Cà Mau, Vũng Rô, Lộc An...
Đặc biệt, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, những chuyến tàu từ Hải Phòng kịp thời chở xe tăng, trọng pháo vào giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa và các tỉnh duyên hải miền Trung, góp phần quyết định vào thắng lợi cuối cùng.
Vận tải trên biển tuy gian nan, nguy hiểm, nhưng lại có ưu thế về tốc độ, thời gian và hiệu quả vận chuyển. Ngoài nhiệm vụ vận tải hàng quân sự, đường Hồ Chí Minh trên biển còn đảm đương sứ mệnh cực kỳ quan trọng đó là đưa đón hàng chục nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ từ miền Bắc vào miền Nam và từ miền Nam ra miền Bắc báo cáo Trung ương, nhận chỉ thị mới, kịp thời bổ sung cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy chiến đấu trên chiến trường miền Nam.
- Quân và dân Hải Phòng luôn tự hào với 4 chữ vàng "Trung dũng - Quyết thắng". Ông đánh giá thế nào về sự kết nối giữa tinh thần này và trách nhiệm đối với miền Nam ruột thịt?
- Danh hiệu "Trung dũng - Quyết thắng" không phải tự nhiên mà có, đó là đúc kết từ máu, mồ hôi và sự hy sinh thầm lặng của biết bao thế hệ người dân đất Cảng. Với khẩu hiệu “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, "Tất cả vì miền Nam ruột thịt", Hải Phòng đã thực hiện xuất sắc vai trò là "Hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam".
Về sức người, hàng vạn thanh niên Hải Phòng đã gác bút nghiên, tạm biệt bến cảng, xưởng máy để "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước". Con em Hải Phòng có mặt trên các chiến trường, chiến đấu dũng cảm và ngã xuống vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Về sức của, dù đời sống còn nhiều khó khăn, dưới mưa bom bão đạn của giặc Mỹ, người dân thành phố Cảng vẫn “Tất cả cho sản xuất”, “Tay búa, tay súng”, “Tay cày, tay súng”, quyết tâm "Thóc thừa cân, quân thừa người", chắt chiu từng hạt gạo, mớ rau gửi ra tiền tuyến…
Đặc biệt, tôi muốn nhắc đến nghĩa tình Hải Phòng - Đà Nẵng kết nghĩa. Từ năm 1960, hai thành phố thề nguyện cùng nhau chia lửa. Hải Phòng mở lòng đón nhận, nuôi dưỡng hàng nghìn cán bộ, con em miền Nam tập kết như người thân trong gia đình tại các Trạm điều dưỡng và Trường học sinh miền Nam.
Sự gắn kết này không chỉ là sự ủng hộ vật chất mà là sự hòa quyện về dòng máu, ý chí, tạo nên sức mạnh tổng hợp để đánh thắng quân thù. Tinh thần ấy còn được thể hiện rõ nét qua cuộc chiến đấu kiên cường bảo vệ cầu Thượng Lý, cầu Xi măng hay những ngày đêm "vạch trời" đánh trả pháo đài bay B-52 vào năm 1972, bảo vệ bình yên cho hậu phương để tiền tuyến vững lòng.
- Thưa ông, nhìn lại những đóng góp to lớn đó sau hơn nửa thế kỷ, bài học giá trị nhất mà Hải Phòng để lại cho hôm nay là gì? Làm thế nào để tinh thần chiến đấu năm xưa trở thành động lực phát triển kinh tế biển mạnh mẽ hiện nay?
- Bài học vĩnh cửu chính là "Lòng dân và sự sáng tạo". Khi ý chí của Đảng hòa quyện với khát vọng độc lập của nhân dân, chúng ta có thể làm nên những điều không tưởng, như việc dùng tàu nhỏ đánh thắng tàu lớn, dùng trí tuệ rà phá những loại vũ khí hiện đại nhất của đối phương.
Hôm nay, trong không khí kỷ niệm 51 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Hải Phòng đang đứng trước những cơ hội chưa từng có. Thành phố vừa đón nhận danh hiệu "Thành phố Anh hùng" (vào năm 2025) và đang quyết liệt thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tinh thần của những "Con tàu không số" năm xưa cần được chuyển hóa thành khát vọng đưa Cảng biển Hải Phòng vươn tầm quốc tế, trở thành trung tâm logistics và kinh tế biển hàng đầu khu vực.
Chúng ta cần nhớ rằng, Hải Phòng phát triển không chỉ cho riêng mình, mà còn vì sự phồn vinh của cả vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, giống như cách Hải Phòng đã từng hy sinh vì cả nước trong kháng chiến. Bài học về sự đoàn kết, tinh thần dấn thân và tư duy đổi mới chính là hành trang để thế hệ trẻ Hải Phòng tiếp bước cha anh, xây dựng thành phố Cảng "Trung dũng - Quyết thắng" ngày càng văn minh, hiện đại và giàu mạnh.
- Trân trọng cảm ơn ông về cuộc trao đổi ý nghĩa này!
THU HẰNG thực hiện