Ngày 30/9/2026, UBND thành phố Hải Phòng ban hành Kế hoạch số 385/KH-UBND về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm giai đoạn 2026 - 2030.

Kế hoạch xác định mục tiêu đưa khoa học, công nghệ trở thành động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hướng tới đưa Hải Phòng thành trung tâm quốc tế về đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ biển.
Kế hoạch số 385/KH-UBND được ban hành nhằm cụ thể hóa các chủ trương, định hướng chiến lược của Trung ương và chính sách của Nhà nước. Trọng tâm là thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15, cùng Điều chỉnh Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 604/QĐ-TTg ngày 2/4/2026, Kế hoạch của Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành theo Quyết định số 2227/QĐ-BKHCN. Thông qua kế hoạch này, thành phố Hải Phòng đặt quyết tâm xác định rõ các mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ trọng tâm nhằm tạo bứt phá mạnh mẽ cho hạ tầng công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đánh giá về kết quả giai đoạn 2021 - 2025, Hải Phòng đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật khi khoa học và công nghệ ngày càng khẳng định vai trò động lực đối với phát triển kinh tế - xã hội. Thành phố đã triển khai 248 nhiệm vụ khoa học, công nghệ cấp thành phố, phối hợp thực hiện 36 nhiệm vụ cấp quốc gia, cấp 52 giấy chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ và hỗ trợ phát triển 76 doanh nghiệp khoa học công nghệ. Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) của Hải Phòng liên tục duy trì vị trí thứ 3 toàn quốc trong hai năm 2023 và 2024, đồng thời đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GRDP đạt tỷ lệ cao. Mặc dù vậy, thành phố cũng thẳng thắn nhìn nhận một số hạn chế như tốc độ đổi mới công nghệ bình quân chưa đạt kỳ vọng, lực lượng khởi nghiệp sáng tạo nhận hỗ trợ trực tiếp chưa nhiều, công tác quản lý còn phân tán và hiệu quả thương mại hóa kết quả nghiên cứu nhìn chung còn khiêm tốn.
Bước sang giai đoạn 2026 - 2030, Hải Phòng đặt mục tiêu tổng quát là đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu để thay đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh. Thành phố tập trung phát triển và làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ số, công nghệ xanh, hướng tới xây dựng Hải Phòng thành trung tâm tầm cỡ khu vực Đông Nam Á và trung tâm quốc tế về đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ biển. Các chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 được ấn định bao gồm: đóng góp của TFP vào tăng trưởng GRDP đạt 57%, kinh phí chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt 2% GRDP với nguồn lực xã hội chiếm trên 60%, tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao đạt từ 50% đến 52%, và tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao trong công nghiệp chế biến, chế tạo đạt trên 60%. Ngoài ra, thành phố phấn đấu đạt tối thiểu 12 nhân lực nghiên cứu trên một vạn dân, duy trì chỉ số PII trong nhóm 5 địa phương dẫn đầu cả nước, phát triển 150 doanh nghiệp khoa học, công nghệ và 450 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
Để hoàn thành các mục tiêu đề ra, Kế hoạch số 385/KH-UBND xác định nhóm giải pháp đột phá về hoàn thiện thể chế, chính sách và đổi mới cơ chế tài chính. Hải Phòng sẽ thành lập và vận hành Quỹ Đầu tư mạo hiểm thành phố, đẩy mạnh huy động vốn đối ứng từ doanh nghiệp và các nhà đầu tư tư nhân để hỗ trợ các dự án khởi nghiệp sáng tạo và công nghệ chiến lược. Cơ chế quản lý tài chính sẽ chuyển dịch mạnh mẽ sang hình thức khoán chi theo sản phẩm, quản lý theo kết quả đầu ra và chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học theo quy định. Thành phố áp dụng cơ chế đặt hàng và tài trợ nhiệm vụ dựa trên bài toán thực tiễn của doanh nghiệp, đồng thời triển khai khung thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, robot, logistics thông minh, công nghệ xanh và kinh tế tầm thấp.

Song song với đổi mới cơ chế, thành phố chú trọng phát triển nguồn nhân lực trình độ cao thông qua mô hình liên kết chặt chẽ "3 nhà" giữa Nhà nước, Nhà trường và Doanh nghiệp. Hải Phòng phấn đấu xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu R&D đạt ít nhất 600 người quy đổi toàn thời gian, đồng thời triển khai các chính sách thu hút chuyên gia, nhà khoa học và trí thức người Việt Nam ở nước ngoài về tham gia giảng dạy, tư vấn chính sách và chuyển giao công nghệ. Các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn được khuyến khích đổi mới chương trình đào tạo gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, công nghệ biển và tự động hóa. Thành phố cũng đặt mục tiêu hình thành từ 2 đến 3 trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ tối thiểu 100 doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn cải tiến năng suất chất lượng và kết nối hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Trong định hướng phát triển ngành, Hải Phòng ưu tiên nguồn lực đầu tư cho các nhiệm vụ nghiên cứu thuộc chương trình khoa học và công nghệ biển, chiếm khoảng 30% tổng số nhiệm vụ cấp thành phố để giải quyết các vấn đề quản trị biển, kinh tế hàng hải, du lịch biển và năng lượng tái tạo. Đối với công nghiệp chế biến chế tạo, thành phố thúc đẩy lộ trình chuyển đổi công nghệ theo hướng tự động hóa, ứng dụng dây chuyền sản xuất thông minh, công nghệ AI Vision kiểm tra chất lượng, tích hợp hệ thống quản trị dữ liệu lớn và chuyển đổi xanh hướng tới mục tiêu xả thải ròng bằng 0. Hạ tầng thương mại dịch vụ và logistics cũng được số hóa toàn diện với việc phát triển hệ sinh thái cảng biển thông minh, kho bãi tự động và hệ thống giao thông thông minh.
Về tổ chức thực hiện, UBND thành phố giao Sở Khoa học và Công nghệ đóng vai trò là cơ quan thường trực, đầu mối tham mưu điều phối và hướng dẫn các sở, ban, ngành, địa phương tổ chức triển khai kế hoạch. Sở Tài chính có trách nhiệm phối hợp cân đối nguồn ngân sách nhà nước, tham mưu cơ chế khoán chi và quản lý Quỹ Đầu tư mạo hiểm. Các sở, ngành, UBND các xã, phường, đặc khu, cùng các trường đại học, viện nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn có trách nhiệm chủ động xây dựng chương trình hành động, lồng ghép các nhiệm vụ khoa học công nghệ vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm. Kết quả thực hiện sẽ được giám sát, đánh giá định kỳ hằng năm và giữa kỳ vào năm 2028 nhằm kịp thời điều chỉnh, quyết tâm đưa Hải Phòng bứt phá trở thành trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hàng đầu khu vực.
NGỌC MAI