Hải Phòng – thành phố Cảng Anh hùng cũng là cái nôi ươm mầm nhiều đổi mới, đột phá. Từ mô hình khoán trong nông nghiệp năm 1980, đến nay, Hải Phòng vẫn là nơi khơi nguồn nhiều chủ trương, cách làm mới, phất cao ngọn cờ sáng tạo, vững bước cùng cả nước tiến vào kỷ nguyên mới.
Kỳ 1: Khởi nguồn sáng tạo từ nông nghiệp
Là thành phố Cảng biển, công nghiệp nhưng ngay trong lĩnh vực nông nghiệp, người Hải Phòng cũng ghi dấu trên bản đồ sáng tạo với những sản phẩm độc đáo, riêng có. Trong đó, không thể không nhắc tới sản phẩm gạo ruộng rươi – đặc sản được làm ra từ sự trăn trở, quyết liệt, tìm hướng đi riêng của người nông dân Hải Phòng. Chính quyền và người nông dân nơi đây cũng tiên phong nghiên cứu, áp dụng mô hình nông nghiệp Israel, giảm bớt sự phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và tự nhiên… Những cái mới riêng có ấy chính là sự tiếp nối bền bỉ mạch nguồn tư duy đổi mới của mô hình “khoán” nông nghiệp những năm 1970 - 1980 của thế kỷ trước.

Không ngừng đổi mới phương pháp sản xuất
Trước nhu cầu tiêu thụ các nông sản an toàn của thị trường, những người nông dân Hải Phòng không ngại thay đổi cách làm, xây dựng nền nông nghiệp hữu cơ. Một trong số đó là sản phẩm gạo ruộng rươi - đặc sản gạo hữu cơ từ giống lúa ST25 ngon nhất thế giới của người Việt, lần đầu tiên được canh tác diện rộng trên các cánh đồng nuôi rươi của người dân huyện Kiến Thụy. Người ấp ủ ý định gắn nhãn “hữu cơ” cho sản phẩm này chính là anh Trần Văn Trung, Giám đốc Công ty cổ phần đầu tư Hải Âu Việt (quận Hải An).

Anh Trung chia sẻ, ngay sau khi thương hiệu gạo ST25 của kỹ sư Hồ Quang Cua cùng cộng sự được công nhận gạo ngon nhất thế giới vào năm 2019, anh tiến hành khảo sát và sau đó cùng với bà con nông dân tại huyện Kiến Thụy thử nghiệm thực hiện mô hình canh tác trồng trên những cánh đồng rươi từ năm 2020. Do đặc tính của loài rươi, lúa cấy tại ruộng rươi không được bón thêm phân hóa học và hóa chất bảo vệ thực vật. Nhờ vậy, gạo thu được đạt chuẩn hữu cơ và có giá cao hơn so với mô hình sản xuất thông thường. Giá lúa tươi bán thành phẩm cao hơn từ 1.500 đồng – 2.500 đồng/kg so với sản xuất thông thường kéo theo lợi nhuận tăng 26,9% - 41,2%.

Đến nay, tổng diện tích canh tác gạo ruộng rươi của doanh nghiệp khoảng 120 ha trải từ huyện Kiến Thụy, sang Tiên Lãng, Vĩnh Bảo. Không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế, mô hình canh tác này cũng làm thay đổi tập quán sản xuất nông nghiệp của người nông dân theo hướng chuyên nghiệp hóa từ khâu sản xuất, quản lý, tiêu thụ sản phẩm. Gạo sản xuất ra đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe, có tiềm năng xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn, khó tính như Mỹ, châu Âu, từ đó nâng tầm vị thế hạt gạo Việt Nam trên trường quốc tế.
Không chỉ đổi mới để tạo ra những đặc sản riêng có, ngành nông nghiệp Hải Phòng còn chủ động nghiên cứu, ứng dụng mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao như công nghệ sản xuất rau, hoa, quả trong nhà lưới, công nghệ sản xuất một số loài nhuyễn thể, nuôi cá lồng bè trên biển đạt sản lượng cao như cá song, cá giò… Nông dân Hải Phòng tiên phong, đi đầu trong ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt của Israel trong canh tác các loại dưa lưới để nâng cao năng suất cây trồng và tăng thu nhập. Quá trình chuyển đổi số của ngành nông nghiệp diễn ra mạnh mẽ. Nhờ đó, dù diện tích đất trồng trọt giảm qua từng năm nhưng năng suất lúa, cây trồng liên tục được cải thiện, giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích đất tăng mạnh, bình quân 9,7%/năm. Giá trị sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản năm 2025 ước đạt 15.724,70 tỷ đồng, gấp 1,01 lần năm 2021 (15.530,80 tỷ đồng), tăng trưởng bình quân 0,50%/năm.
Giữ mãi mạch nguồn đổi mới
Nhìn lại lịch sử, có thể thấy những sáng tạo, đổi mới trong nông nghiệp hôm nay của người Hải Phòng khơi nguồn từ rất sớm với dấu mốc không thể không nhắc tới là mô hình “khoán” sản phẩm. Nhắc tới khoán nông nghiệp tại Hải Phòng, nhiều người nhớ ngay tới mảnh đất Đoàn Xá (huyện Kiến Thụy). Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi được gặp gỡ và lắng nghe thêm câu chuyện của những người nông dân từng thực hiện “khoán chui” giai đoạn 1978 – 1979 tại xã Mỹ Đức (huyện An Lão).
.jpg)
Ông Đỗ Công Số, ở thôn Tiến Lập, xã Mỹ Đức (huyện An Lão) năm nay 73 tuổi, từng giữ các chức vụ Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp xã Mỹ Đức, Chủ tịch UBND xã rồi Bí thư Đảng ủy xã giai đoạn 1976 – 1986. Theo ông Số, ngay từ năm 1948, tại xã Mỹ Đức (khi đó có tên gọi là Mỹ Thái) đã xây dựng hợp tác xã nông nghiệp Nguyễn Huệ, với trên 100 lao động gồm những cán bộ, đảng viên và đồng bào được chỉ định ở lại xây dựng cơ sở cách mạng tại địa phương. Mô hình này chính là cơ sở, bài học kinh nghiệm quý báu để cấp ủy đảng, chính quyền địa phương học hỏi, lãnh đạo việc thực hiện đổi mới sản xuất nông nghiệp giai đoạn sau này.
Năm 1976, sau khi hoàn toàn giải phóng, đất nước ta lâm vào hoàn cảnh rất khó khăn, điều kiện sản xuất gặp vô vàn thách thức. Ngày 5-4-1976, Chính phủ ban hành Nghị quyết 61/CP về vận động tổ chức lại sản xuất cải tiến một bước quản lý nông nghiệp, lâm nghiệp từ cơ sở theo hướng tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Xã Mỹ Đức được đầu tư cơ sở vật chất, cải tạo đồng ruộng phát triển vùng rau chuyên canh. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, tình trạng dong công phóng điểm kéo năng suất cây trồng, sản lượng chăn nuôi của địa phương chững lại, xuất hiện tình trạng thiếu lương thực trầm trọng những ngày giáp hạt.
Trước thực tế đó, tháng 12-1979, tại cuộc họp với lãnh đạo UBND thành phố bàn chuyên đề về vùng rau chuyên canh tại địa phương, ông Số khi đó đang là Thường trực Đảng ủy xã cùng với lãnh đạo địa phương báo cáo xin được trích 15% diện tích để khoán cho hộ xã viên chăn nuôi lấy lượng thực phẩm làm nghĩa vụ với Nhà nước. Dù được đồng chí Chủ tịch UBND thành phố Đoàn Duy Thành (khi đó) nhất trí cho làm thử với nguyên tắc “không được khoán trắng” nhưng việc triển khai khoán trên 15% diện tích của xã Mỹ Đức vẫn chưa được lãnh đạo huyện An Lão ủng hộ. Tuy nhiên, với tinh thần quyết tâm, dám nghĩ, dám làm, ban lãnh đạo xã Mỹ Đức khi đó quyết liệt đề xuất và được cấp trên nhất trí cho triển khai một cách thận trọng.
.jpg)
Vụ chiêm xuân năm 1979 – 1980, năng suất của diện tích làm khoán đạt gần 180 kg/sào, tăng 40 kg – 60 kg/sào so với diện tích không khoán. Với thành công này, xã Mỹ Đức đón nhiều lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Thành ủy, UBND thành phố Hải Phòng về kiểm tra, lấy kinh nghiệm thực tế. Mô hình khoán nông nghiệp của xã góp phần cung cấp những dữ kiện quan trọng để Thành ủy, UBND thành phố tổng kết thực tế xây dựng và ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TU (Nghị quyết 24) trong đó tập trung cải tiến quản lý trong các hợp tác xã nông nghiệp, thực hiện khoán sản phẩm cho nhóm lao động và người lao động.
Cũng từ Nghị quyết số 24, nông nghiệp Hải Phòng được mở đường phát triển để đi từ chỗ thiếu đói đến tự túc được cho cả phi nông nghiệp. Nghị quyết 24 của Hải Phòng chính là căn cứ để sau này Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 100-CT/TƯ về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm lao động và người lao động và Nghị quyết số 10-NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp.
Câu chuyện về những người nông dân Mỹ Đức (An Lão) mạnh dạn tìm tòi, thực hiện “khoán” trong nông nghiệp khẳng định: Trước những khó khăn nảy sinh trong cuộc sống, người dân Hải Phòng ở vùng đất nào cũng luôn nung nấu những ý nghĩ đổi mới, không ngại gian khổ, dám dấn bước tìm ra con đường đi mới, vượt qua chông gai, vươn tới tương lai tươi sáng hơn.
Nối tiếp mạch nguồn đổi mới ấy, ngày nay, cùng với phát triển nông nghiệp, thành phố Hải Phòng đặc biệt quan tâm triển khai phong trào xây dựng nông thôn mới để nâng cao chất lượng sống khu vực nông thôn. Theo báo cáo của UBND thành phố, giai đoạn 2021 – 2024, Hải Phòng ban hành hơn 20 Nghị quyết, chương trình, kế hoạch ưu tiên bố trí, huy động các nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội; ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp, bảo đảm an sinh xã hội, nước sạch vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, chuyển đổi số… Có thể kể đến: Nghị quyết số 02/2023/NQ-HĐND ngày 18-7-2023 của HĐND thành phố về xây dựng xã nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2021 – 2025 với 2 chính sách đặc thù: Hỗ trợ tài sản, vật kiến trúc trên đất và hỗ trợ tiền sử dụng đất khi giao đất ở mới đối với các hộ gia đình, cá nhân tặng đất khi xây dựng, mở rộng các công trình xã nông thôn mới kiểu mẫu; Nghị quyết số 15/2021/NQ-HĐND ngày 10-12-2021 của HĐND thành phố về cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy sản, hàng hóa tập trung giai đoạn 2021 – 2025; các nghị quyết miễn giảm phí, lệ phí…
.jpg)
Thành phố bố trí hơn 15,6 nghìn tỷ đồng để xây dựng nông thôn mới; huy động tổng hợp nguồn lực tham gia xây dựng nông thôn mới được hơn 63 nghìn tỷ đồng trong đó nguồn huy động từ doanh nghiệp, nhân dân chiếm gần 25%. Đến tháng 4-2025, Hải Phòng có 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới và là một trong 18 tỉnh, thành phố dành nguồn lực lớn từ ngân sách xây dựng nông thôn mới. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn năm 2024 đạt gần 80 triệu đồng/người/năm, tăng hơn 22 triệu đồng so với năm 2020.
Đời sống người dân khu vực nông thôn Hải Phòng có sự thay đổi lớn không chỉ khá giả về đời sống vật chất mà đời sống tinh thần ngày càng phong phú, môi trường sống được cải thiện và giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc. Tháng 6-2025, Chính phủ công nhận thành phố Hải Phòng hoàn thành nhiệm vụ về xây dựng nông thôn mới năm 2024. Quyết định này là sự ghi nhận cho những nỗ lực, cố gắng của các cấp chính quyền và nhân dân thành phố nhằm nâng cao chất lượng đời sống cho người dân các địa phương ngoại thành, để nông thôn Hải Phòng trở thành những miền quê đáng sống.
Thành Lê (Kỳ 2: Những chính sách “dân thụ hưởng”)