Nhà thơ, NSNA Vũ Thành Chung:

Bức tranh quê.
Ảnh: Vũ Thành Chung
Những cuộc đi ấy cho Vũ Thành Chung, ngoài những tấm ảnh nghệ thuật được giới nhiếpảnh trong nước và quốc tế công nhận, còn là những bài thơ với nhiều địa danh khác nhau trên cả nước. “Đi dọc đời mình” là tập thơ chọn của anh trong gần 50 năm sáng tác vừa mang hàm ý hiện thực vừa ghi được dấu ấn cảm xúc của nhà thơ. Bên cạnh những bài thơ sâu sắc về cội nguồn tổ tiên, về công đức cha mẹ, về tình anh em, về quê hương, là những bài thơ gặp trên các chặng đường Vũ Thành Chung đi qua. Nhưng quan trọng hơn, những bài thơ ấy, những câu thơ gan ruột mà tác giả chắt lọc và mong muốn đưa đến bạn đọc những tín hiệu hiện hữu của người trong cuộc. Thú rong chơi đem lại cho Vũ Thành Chung thành công kép, vừa có ảnh nghệ thuật vừa có những bài thơ trữ tình. Như hai câu thơ này chẳng hạn: “Mắt em lúng liếng đưa duyên/ Làn chèo em đổ cho thuyền đứt neo” (Lúng liếng).
Những cuộc hội ngộ, ấn tượng đẹp về bạn bè được anh ghi lại bằng những câu thơ thấm thía nghĩa tình. Chất lãng tử trong những câu thơ trong bài “Rượu mây”, đánh dấu những lần vui thú với bè bạn Cao Bằng: “Mây sà vào chén rượu/ Ta uống cả làn mây/ ..../ Xa nhau bao nhiêu ngày/ Ủ bấy nhiêu thương nhớ/ Chén này, thêm chén nữa/ Uống cả hình bóng nhau”.
Ý nghĩa hơn cả, dù đi đâu về đâu, nhà thơ vẫn nhớ đến Hải Phòng quê hương của anh. Tác giả như đọc đươc từng tên làng, bến sông, góc phố in dấu Hải Phòng và ngay cả trong giấc mơ: “Tiếng còi len vào giấc ngủ/ Cơn mơ gặp dáng con tàu đi/ Cánh phượng hồng nuôi tình yêu phố biển/ Hải Phòng ơi!/ Đương tuổi dậy thì... (Hải Phòng đối diện).
Nhưng với Vũ Thành Chung còn có những Hải Phòng ngoài Hải Phòng. Đi nhiều nơi Vũ Thành Chung đều gặp lại quê nhà. Ngay bên trời tây, đến Vancouver, bạn đọc vẫn gặp người Thủy Nguyên đồng hương với tác giả, hay trong nghĩa trang trên đỉnh Trường Sơn...: “Có một Hải Phòng ở ngoài Hải Phòng/ Ở muôn phương, lòng ta thương nhớ/ .../ Hải Phòng trong mỗi người con xa/ Chung giọng nói vang trầm, đằm vị mặn” (Có một Hải Phòng).
Có lẽ sự đổi thay phong cảnh quê hương trong những cuộc dâu bể khiến Vũ Thành Chung nặng lòng suy tư hoài niệm về một thời không trở lại. Chính những cảnh làng quê đang mất đi vẻ thơ mộng khiến tác giả tiếc nuối. Sự tiếc nuối ấy đi vào thơ đầy cảm xúc và hình ảnh: “Còn đâu kẽo kẹt bờ tre/ Ru em những buổi trưa hè võng chao/ .../ Rặng tre xanh mướt đâu rồi?/ Gầy meo ngọn gió/Trong tôi/ Chát lòng!” (Đâu rồi tre xanh).
Càng đi càng chiêm ngẫm về những gì đã trải. Những hội hè đình đám không còn xa lạ. Những buồn vui, những khổ đau đồng loại không còn xa lạ. Trái tim nhà thơ vẫn nhịp với cuộc sống. Những chuyến đi vẫn là thú vui của tác giả. Đi để tìm kiếm những gì trời cho, đời cho. Đấy là hành trang đáng quý nhất mà tác giả mang theo: “Tạm biệt những phố phường chật hẹp/ Mờ mịt sông Hồng. Vật vã nhịp cầu sang/ Ta thanh thản trước ngoại thành lộng gió/ Nắng vàng thu, lúa chín rợp đồng làng!” (Quê ơi).
Nhưng cũng có lúc Vũ Thành Chung lắng lại, tự vấn mình “nghìn câu trả lời cho nghìn câu hỏi/ Đời rồi xa... Ai còn ai gần gũi”. Anh tự tạo cho mình tâm thế bình tĩnh vượt qua những thử thách của quy luật đời người: “Tôi lạc vào những cơn gió hồng hoang/ Những cơn gió không màu, không sắc/ Biển trước mặt, chân trời xa giăng mắc/ Cơn cớ gì những con sóng trào lên?” (Trên bờ biển gió).
Là người từng mặc áo lính những năm chống Mỹ, Vũ Thành Chung có cái nhìn nhân văn thấm thía. Không sa vào những ồn ào cổ súy chuyện thắng thua, mà lặng lẽ chiêm nghiệm những được mất của thời quá vãng. Tất cả những điều đó được ghi lại trong những bài “Nếu như”, “Mười nén nhang”, “Tượng đài người lính”, “Mây trắng Trường Sơn”... Những câu thơ dồn nén nỗi đau của những người thân, của đồng đội không ngày trở về, tự nguyện bỏ mình cho quê hương đất nước: “Những người lính trộn cùng đất đá/ Trộn vào nhau thành núi, thành đồi...” (Tượng đài người lính).
Rồi những năm tháng được sống hạnh phúc hòa bình, quên đi những gian khó thời chiến tranh, bài ca tình yêu được cất lên mọi nẻo đường đất nước, mọi người được sống yên vui trong lao động dựng xây. Những cuộc lãng du của Vũ Thành Chung góp cho những trang thơ tung tẩy nhiều vùng đất. Anh đã có dịp tu nghiệp tại Liên Xô cũ, đấy cũng là nơi anh nhiều hàm ơn với thầy với bạn. Trường ca “Một thời nhớ” như nói hộ tấm lòng anh: “Mẹ Việt Nam sinh tôi trong lam lũ/ Lớn lên từ mái rạ, bờ tre/ Mẹ nước Nga chở che/ Cho tôi hành trang/ Vững bước vào đời...”.
Đi! Cuộc “rong chơi” có chủ đích, đấy là cuộc hành trình dọc thời gian, cùng với lao động nghiêm túc, đã tạo nên nhà thơ, NSNA, TS Vũ Thành Chung. Nhưng dù đi đâu về đâu, Hải Phòng vẫn là nơi neo đậu tâm hồn nhà thơ: “Da diết nào hơn nỗi nhớ quê hương/ Những người con ở muôn phương Tỏ quốc/ Thủy Nguyên ơi! Thị vàng, khế ngọt/ Chiều chiều ra ngõ ngóng trông...”. Đấy cũng là những câu thơ nặng ân nghĩa, tác giả viết dâng tặng “Thủy Nguyên quê mẹ”. Và Hải Phòng còn lưu dấu ấn “Vòng tay bạn xiết tay tôi vô tận/ Làm nên Hải Phòng/ Đối diện biển Đông”.