
Mít tinh mừng ngày giải phóng Hải Phòng 13-5-1955. (Ảnh tư liệu)
Thành uỷ, Uỷ ban Hành chính, Mặt trận Tổ quốc thành phố, các cấp uỷ Đảng, chính quyền huyện, thị xã, khu phố, xã, thị trấn, các nhà máy, xí nghiệp, Cảng và các đoàn thể quần chúng tổ chức mít tinh trọng thể chào mừng thắng lợi giải phóng miền Nam. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao diễn ra sôi nổi từ nội đến ngoại thành và hải đảo xa xôi. Thành phố tổ chức cuộc diễu binh, diễu hành lớn, thể hiện ý chí của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân Hải Phòng đối với thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và quyết tâm xây dựng thành phố, đất nước “Đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” theo lời của Bác.
Ngày 29-9-1975, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 24 (khóa III) ra nghị quyết về Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, xác định nhiệm vụ chiến lược và nhiệm vụ trước mắt của cách mạng nước ta trong giai đoạn mới. Ngày 3-1-1976, Bộ Chính trị ra chỉ thị về ý nghĩa và tầm quan trọng trong Tổng tuyển cử và thống nhất đất nước về mặt nhà nước. Ngày 25-4-1976, cử tri Hải Phòng cùng cử tri cả nước nô nức đi bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhan dân các cấp. Thắng lợi của Tổng tuyển cử là sự biểu hiện ý chí của toàn dân ta đối với sự nghiệp thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Công cuộc thống nhất đất nước về mặt Nhà nước căn bản hoàn thành. Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội đã quyết định đổi tên Nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Uỷ ban hành chính các cấp đổi là Uỷ ban nhân dân. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (tháng 12-1976) tiến hành tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và đề ra đường lối cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới:"Phấn đấu làm cho nước Việt Nam trở thành nước xã hội chủ nghĩa có công nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học kỹ thuật tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, có đời sống văn minh hạnh phúc". Tại đại hội này, Đảng đổi tên là Đảng Cộng sản ViệtNam và tiếp đó Đoàn Thanh niên Lao động đổi là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
Hải Phòng là một trung tâm kinh tế - văn hóa, cửa khẩu giao lưu quốc tế lớn nhất miền Bắc, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tổ quốc thống nhất và trong tình hình mới, vị thế của Hải Phòng có nhiều thay đổi: Từ cửa khẩu giao lưu quốc tế, trung tâm công nghiệp lớn nhất Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay chuyển giữ vị trí chiến lược kinh tế – quốc phòng – an ninh vùng, khu vực duyên hải Bắc bộ. Điều đó đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền thành phố phải sớm có những chủ trương, giải pháp phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ mới của thời kỳ thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể thành phố tập trung chỉ đạo và triển khai sâu rộng đợt sinh hoạt chính trị quán triệt Nghị quyết 211-NQ/TW của Bộ Chính trị về Cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới; Sơ kết đợt tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết số 23-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương; Tổ chức bình báo công trong nhân dân. Đáng chú ý là tổng kết thực hiện Nghị quyết 228-NQ/TW, ngày 12-01-1974, của Bộ Chính trị về “Cuộc đấu tranh chống lấy cắp tài sản xã hội chủ nghĩa, chống làm ăn vi pháp” và cuộc vận động “Nâng cao chất lượng đảng viên, kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh”… Đợt tổng kết thực hiện nghị quyết số 228-NQ/TW được tiến hành khá chặt chẽ từ thành phố đến cơ sở. Điều đó đã góp phần nâng cao nhận thức tư tưởng, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Qua kiểm điểm tập thể, cá nhân, mỗi đơn vị, mỗi người đã xác định được trách nhiệm trên cương vị công tác của mình; xem xét và giải quyết được nhiều vụ việc tồn đọng, kéo dài… Tổng kết thực hiên cuộc vận động “Nâng cao chất lượng đảng viên, kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh” được tiến hành từ tháng 1/1976. Quá trình tổng kết cũng là đợt sinh hoạt chính trị lớn nhằm làm cho các cấp ủy Đảng nhận rõ thực trạng và xây dựng kế hoạch khắc phục những yếu kém, nâng cao chất lượng đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng.
Trong hai mươi năm vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thành phố Hải Phòng đã đạt những thành tựu đáng ghi nhận. Đó là kết quả sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, quá trình lao động cần cù, sáng tạo của các tầng lớp nhân dân. Khi bước vào thời kỳ thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng bộ và nhân dân Hải Phòng đứng trước những khó khăn, thử thách không nhỏ. Hai cuộc chiến tranh phá hoại và phong tỏa ác liệt, kéo dài của đế quốc Mỹ đã để lại hậu quả nặng nề trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Nhiều cơ sở vật chất kỹ thuật bị tàn phá. Nền nếp quản lý kinh tế, quản lý xã hội bị đảo lộn. Nhiều gia đình và cá nhân phải chịu nhiều mất mát, hy sinh to lớn. Những người tham gia chiến đấu nay trở về, mang thương tích, bệnh tật suốt đời. Hàng nghìn liệt sĩ đã để lại cha mẹ già và con nhỏ. Những hậu quả đó còn tác động lâu dài đến sản xuất, đời sống, xã hội và mỗi gia đình. Mặt khác, sau chiến tranh, không còn viện trợ của nước ngoài, các lĩnh vực đều bộc hết những khó khăn: Vật tư cho sản xuất thiếu nghiêm trọng; lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu khan hiếm, đời sống nhân dân sa sút; những khuyết điểm của cơ chế quản lý kinh tế - xã hội ngày càng bộc lộ và gây tác động xấu trên nhiều mặt. Trong bối cảnh đó, Đảng bộ và nhân dân HảI Phòng quyết tâm khắc phục khó khăn, nỗ lực vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ chính trị.
Theo thống kê bước đầu về tội ác chiến tranh ở Hải Phòng, đế quốc Mỹ đã sử dụng 5.843 lượt máy bay các loại (cả B52 và F111), 58 tàu chiến, ném 35.000 tấn bom, đạn, bắn hàng vạn quả đạn pháo, thả hàng ngàn quả thuỷ lôi phong toả các luồng giao thông thuỷ, đánh phá 1.086 trận vào 3.083 mục tiêu, gồm 30% mục tiêu là khu dân cư và công trình công cộng, 25% vào cơ sở kinh tế, 20% vào giao thông vận tải, 25% vào các mục tiêu khác, làm chết 3.295 người (1.318 phụ nữ, 582 trẻ em, 205 người già, 707 công nhân viên chức), làm bị thương 5.429 người (2.086 phụ nữ, 611 trẻ em, 247 người già, 1.071 công nhân viên chức), trong đó 85% là nhân dân nội thành, nội thị. Nhà ở có 14.437 ngôi nhà tranh, 978.531m2 nhà xây, nhà cao tầng, 10 cầu lớn nhỏ và hàng trăm tàu thuyền, ngư cụ… bị phá huỷ. Thiệt hại về vật chất – kỹ thuật là rất lớn, làm tê liệt, đình trệ nhiều ngành sản xuất, gây tác hại lâu dài. Chỉ tính từ ngày16-4-1972 đến tháng 10-1972 (chưa kể chiến tranh phá hoại lần thứ nhất và 18 ngày đêm tháng 12-1972), thiệt hại của thành phố là 93.865.000 đồng (giá cố định năm 1958, bằng 5.214.722 chỉ vàng), trong đó cơ sở trung ương đóng trên địa bàn thiệt hại 60 triệu, địa phương thiệt hại hơn 20 triệu, thiệt hại về máy móc, thiết bị hơn 35 triệu đồng (giá 18 đồng/1chỉ vàng).
Đảng bộ Hải Phòng có bề dày kinh nghiệm trong chỉ đạo đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại, phong toả của đế quốc Mỹ và những kinh nghiệm bước đầu của 20 năm xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá - xã hội, nhưng khi bước sang thời kì lịch sử mới cũng không tránh khỏi những lúng túng, hẫng hụt. Thành phố đứng trước bộn bề bao công việc cấp bách cần được giải quyết, khắc phục những hạn chế, yếu kém, xây dựng thành phố ngang tầm vị trí của mình trong công cuộc tái thiết đất nước.
Từ đầu năm 1978, người Hoa ồ ạt bỏ về nước và đi các nước khác. Trước tình hình đó, Thành ủy chỉ đạo bố trí các điểm đón tiếp người Hoa ở các nơi về Hải Phòng để ra đi và lập một số trạm ở Thủy Nguyên, An Hải… để dự phòng đón những người Hoa quay trở lại. Thành phố giao trách nhiệm cho các huyện điều động nhân dân ra vùng biên giới của tỉnh Quảng Ninh, để đảm bảo ổn định và bảo vệ biên giới, phát triển kinh tế. Chỉ trong vòng 12 ngày tháng 6-1978, thành phố đã bố trí phương tiện đưa 12.000 người đi lao động ở các địa phương biên giới. Đến đầu năm 1979, hơn 30.000 người ở các huyện Thủy Nguyên, Kiến Thụy, Vĩnh Bảo được tăng cường ra tỉnh Quảng Ninh và huyện Cát Hải.
Ngày 17-2-1979, 60 vạn quân và gần 600 xe tăng, xe bọc thép của Trung Quốc xâm lược nước ta trên toàn tuyến biên giới phía Bắc dài hơn 1.400 km, từ Lai Châu đến Quảng Ninh, tàn phá tài sản và giết nhiều dân thường, trẻ em. Nền độc lập của dân tộc bị đe dọa, ngày 3- 3-1979, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi và ngày 5-3-1979, Chủ tịch nước công bố Lệnh Tổng động viên trong cả nước. Hưởng ứng Lời kêu gọi của Đảng và Lệnh Tổng động viên của Chủ tịch nước, Đảng bộ, quân và dân Hải Phòng huy động lực lượng đào công sự, hầm hào, rào làng sẵn sàng chiến đấu, tăng cường lực lượng vũ trang. Bộ đội địa phương tăng 4,5 lần, cán bộ chỉ huy tăng 3,4 lần. Dân quân tự vệ dược bổ sung thêm gần 9 vạn người, bằng 19,2% dân số. Cảng Hải Phòng được quân sự hóa.