Thái Phan
![]() |
| Với ông Nghiêm, Báo Hải Phòng luôn là đại gia đình, các thế hệ làm báo Báo Hải Phòng luôn là người thân. |
Câu chuyện ông kể đưa tôi trở về quãng thời gian đế quốc Mỹ quay trở lại ném bom đánh phá miền Bắc, trọng điểm là Hà Nội và Hải Phòng (1965-1972). Giai đoạn quân và dân thành phố Cảng vừa sản xuất, vừa chiến đấu góp phần bảo vệ, xây dựng miền Bắc và chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn, quyết tâm cùng đồng bào và chiến sĩ miền Nam đánh thắng giặc ngoại xâm cũng là thời kỳ thử thách chưa từng có đối với Báo Hải Phòng. Để phù hợp với tình hình thời chiến, năm 1967, cơ quan Báo phải chia làm 2 bộ phận: Một bộ phận gồm cán bộ, phóng viên làm nhiệm vụ trực chiến tại nội thành (gồm ông Nghiêm và một số nhà báo khác như Văn Sáng, Băng Sâm, Hữu Trí…) với tinh thần, dù có thể hy sinh bất cứ lúc nào, nhưng luôn bảo đảm đưa tin chính xác, nhanh nhạy. Bộ phận còn lại gồm Toà soạn, Nhà in với máy móc và phương tiện phục vụ xuất bản báo sơ tán về xã Trường Thành bên núi Voi (huyện An Lão). Dù vất vả, gian nan nhưng Báo Hải Phòng duy trì xuất bản đúng kỳ, kịp thời mang đến bạn đọc những thông tin chiến thắng mới nhất từ khắp hai miền Nam- Bắc.
Hơn 40 năm trôi qua, nhưng ông chưa thể quên những lần tác nghiệp trong điều kiện “mưa bom, lửa đạn”. Cứ sau mỗi lần máy bay giặc gầm rú, quần thảo trên bầu trời, ông lại cùng các đồng nghiệp nhanh chóng rời hầm trú ẩn của cơ quan rồi đội mũ sắt, đeo xắc-cốt đựng sổ, bút ghi chép, máy ảnh, đi xe đạp đến từng trận địa hay địa điểm bị bom giặc tàn phá. Dữ dội, khốc liệt nhất có lẽ là lần đế quốc Mỹ dùng “pháo đài bay B-52” oanh tạc thành phố đúng đêm noel 1972. Trong hơn 2 giờ liên tục (từ khoảng 22 đến 24 giờ), máy bay Mỹ ném bom rải thảm xuống nhiều nơi ở các huyện Kiến Thuỵ, Thuỷ Nguyên, quảng trường Nhà hát thành phố, các phố Cầu Đất, Trần Phú… Trong đó, trụ sở toà soạn Báo Hải Phòng hứng trọn quả rốc-két dẫn đến sạt một góc toà nhà chính.
Vượt qua khó khăn, gian khổ, các phóng viên của Báo bám sát trận địa trực chiến và có mặt tại cơ sở ở khắp nội, ngoại thành, hải đảo để phản ánh khí thế, chiến công trong lao động sản xuất, chiến đấu của quân dân ta. Những tin, bài báo hay tấm ảnh “nóng hổi” ngày đó Báo Hải Phòng đăng tải được đông đảo người dân, cán bộ, chiến sĩ… đón đọc. Nhiều tin bài là bằng chứng đanh thép tố cáo, lên án tội ác của giặc Mỹ tàn phá các công trình phúc lợi, nhà cửa, sát hại người dân vô tội… Qua đó, góp phần hun đúc lòng yêu nước, ý chí kiên cường dũng cảm và tinh thần đoàn kết chống giặc ngoại xâm của người dân thành phố nói riêng và cả dân tộc Việt Nam nói chung.
Cùng các phóng viên thời sự đưa nhiều tin, bài quan trọng, kịp thời như máy bay Mỹ bị bắn rơi, phi công Mỹ nhảy dù xuống cánh đồng ở xã Đại Hợp (huyện Kiến Thuỵ), xã Phục Lễ (huyện Thuỷ Nguyên), huyện An Hải… được Ban Biên tập, cấp trên khen, quần chúng nhân dân tin yêu. Có lần, sau khi giặc ném bom, ông đạp xe về xã Đại Hợp (huyện Kiến Thuỵ). Còn khoảng 4 cây số nữa tới nơi, bỗng săm bánh sau bị thủng. Hai bên vệ đường chẳng có cửa hàng sửa xe, ông vừa dắt xe vừa chạy để kịp về chụp ảnh và phỏng vấn. Đến nơi, thấy nhà báo mồ hôi nhễ nhại, người dân ở đó “xung phong” dắt xe đi vá săm. Trước khi đi, người này còn hỏi với lại “Nhà báo ăn cơm chưa?”. Sau khi chụp ảnh và phỏng vấn xong, người nọ dắt xe trao tận tay, ông thấy trên ghi đông treo lủng lẳng chiếc túi đựng mấy củ khoai lang luộc….
“Nghề nào cũng cần có sự nhiệt huyết, nhiệt tâm, nhưng riêng nghề báo, cần thêm bản lĩnh chính trị vững vàng, sự nhạy bén trong nắm bắt và xử lý thông tin. Làm báo thời nào cũng có những khó khăn, gian khổ và thuận lợi riêng. Hiện nay, dù có sự hỗ trợ của phương tiện đi lại và trang thiết bị hiện đại như máy tính, máy ảnh kỹ thuật số, đường truyền internet…, nhưng sự cạnh tranh về thông tin đòi hỏi các phóng viên làm việc với cường độ cao, chịu áp lực lớn hơn. Tôi mong mỏi các thế hệ làm báo Báo Hải Phòng giữ gìn, phát huy truyền thống của lớp phóng viên đi trước, không những hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, mà còn giành được sự tin yêu của quần chúng nhân dân”, ông Nghiêm nắm chặt tay tôi dặn dò.