Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân

03/11/2023 16:43

(Theo Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015)

1. Các hoạt động giám sát của HĐND

- Xem xét báo cáo công tác của Thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và các báo cáo khác theo quy định.

- Xem xét việc trả lời chất vấn của những người bị chất vấn quy định.

- Xem xét quyết định của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp.

- Giám sát chuyên đề.

- Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu.

2. Chương trình giám sát của HĐND

- Thường trực HĐND dự kiến chương trình giám sát hằng năm của HĐND trên cơ sở đề nghị của các Ban của HĐND, đại biểu HĐND, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và kiến nghị của cử tri ở địa phương trình HĐND xem xét, quyết định tại kỳ họp giữa năm của năm trước.

Chậm nhất là ngày 1 - 3 của năm trước, các Ban của HĐND, đại biểu HĐND, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và cử tri ở địa phương gửi đề nghị, kiến nghị giám sát của HĐND đến Thường trực HĐND. Đề nghị, kiến nghị giám sát phải nêu rõ sự cần thiết, nội dung, phạm vi, đối tượng giám sát.

Văn phòng HĐND cấp tỉnh, bộ phận giúp việc HĐND cấp huyện, cấp xã tập hợp, tổng hợp đề nghị, kiến nghị giám sát và báo cáo Thường trực HĐND. Thường trực HĐND thảo luận và lập dự kiến chương trình giám sát của HĐND để trình HĐND xem xét, quyết định chậm nhất là 10 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp giữa năm của HĐND.

- HĐND quyết định chương trình giám sát hằng năm theo trình tự sau đây:

+ Thường trực HĐND trình bày tờ trình về dự kiến chương trình giám sát;

+ HĐND thảo luận;

+ HĐND biểu quyết thông qua chương trình giám sát của HĐND.

- Thường trực HĐND ban hành kế hoạch và tổ chức thực hiện chương trình giám sát của HĐND, trừ trường hợp quy định.

- Thường trực HĐND báo cáo kết quả thực hiện chương trình giám sát hằng năm của HĐND tại kỳ họp giữa năm sau của HĐND.

3. Xem xét báo cáo

- HĐND xem xét các báo cáo sau đây:

+ Báo cáo công tác 6 tháng, hằng năm của Thường trực HĐND, Ban của HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp;

+ Báo cáo công tác nhiệm kỳ của Thường trực HĐND, Ban của HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;

+ Báo cáo của UBND về kinh tế - xã hội; báo cáo của UBND về thực hiện ngân sách nhà nước, quyết toán ngân sách nhà nước của địa phương; báo cáo của UBND về công tác phòng, chống tham nhũng; báo cáo của UBND về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; báo cáo của UBND về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật; báo cáo của UBND về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cử tri;

+ Báo cáo về việc thi hành pháp luật trong một số lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật;

+ Báo cáo khác theo đề nghị của Thường trực HĐND.

- Thời điểm xem xét báo cáo được quy định như sau:

+ Tại kỳ họp giữa năm và cuối năm, HĐND xem xét, thảo luận các báo cáo quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều này;

+ Tại kỳ họp cuối nhiệm kỳ, HĐND xem xét, thảo luận các báo cáo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

+ Thời điểm xem xét các báo cáo quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này theo đề nghị của Thường trực HĐND.

- Theo sự phân công của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND cùng cấp thẩm tra các báo cáo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ báo cáo của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND.

- HĐND xem xét, thảo luận báo cáo theo trình tự sau đây:

+ Người đứng đầu cơ quan có báo cáo trình bày báo cáo;

+ Trưởng Ban của HĐND trình bày báo cáo thẩm tra;

+ Người đứng đầu cơ quan có báo cáo có thể trình bày bổ sung những vấn đề có liên quan mà HĐND quan tâm;

+ HĐND thảo luận;

+ HĐND có thể ra nghị quyết về công tác của cơ quan có báo cáo.

- Nội dung của nghị quyết theo quy định tại khoản 5 Điều 13 của Luật này.

4. Chất vấn và xem xét trả lời chất vấn tại kỳ họp HĐND

- Trước phiên họp chất vấn, đại biểu HĐND ghi vấn đề chất vấn, người bị chất vấn vào phiếu chất vấn và gửi đến Thường trực HĐND.

- Căn cứ vào chương trình kỳ họp, ý kiến, kiến nghị của cử tri, vấn đề xã hội quan tâm và phiếu chất vấn của đại biểu HĐND, Thường trực HĐND đề nghị HĐND quyết định nhóm vấn đề chất vấn và người bị chất vấn.

- Hoạt động chất vấn tại kỳ họp HĐND được thực hiện theo trình tự sau đây:

+ Đại biểu HĐND nêu chất vấn, có thể cung cấp thông tin minh họa bằng hình ảnh, video, vật chứng cụ thể;

+ Người bị chất vấn phải trả lời trực tiếp, đầy đủ vào vấn đề mà đại biểu HĐND đã chất vấn, không được ủy quyền cho người khác trả lời thay; xác định rõ trách nhiệm, biện pháp và thời hạn khắc phục hạn chế, bất cập (nếu có);

+ Trường hợp đại biểu HĐND không đồng ý với nội dung trả lời chất vấn thì có quyền chất vấn lại để người bị chất vấn trả lời;

+ Những người khác có thể được mời tham dự phiên họp và trả lời chất vấn của đại biểu HĐND về vấn đề thuộc trách nhiệm của mình. Thời gian nêu chất vấn, thời gian trả lời chất vấn được thực hiện theo quy định tại Quy chế hoạt động của HĐND và đại biểu HĐND.

- HĐND cho trả lời chất vấn bằng văn bản trong các trường hợp sau đây:

+ Chất vấn không thuộc nhóm vấn đề chất vấn tại kỳ họp;

+ Vấn đề chất vấn cần được điều tra, xác minh;

+ Chất vấn thuộc nhóm vấn đề chất vấn tại kỳ họp nhưng chưa được trả lời tại kỳ họp. Người bị chất vấn phải trực tiếp trả lời bằng văn bản. Văn bản trả lời chất vấn được gửi đến đại biểu HĐND đã chất vấn, Thường trực HĐND trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày chất vấn. Sau khi nhận được văn bản trả lời chất vấn, nếu đại biểu HĐND không đồng ý với nội dung trả lời chất vấn thì có quyền đề nghị HĐND đưa ra thảo luận tại kỳ họp HĐND hoặc kiến nghị HĐND xem xét trách nhiệm đối với người bị chất vấn.

- HĐND có thể ra nghị quyết về chất vấn. Nội dung nghị quyết theo quy định.

- Phiên họp chất vấn tại HĐND cấp tỉnh được phát thanh, truyền hình trực tiếp, trừ trường hợp do HĐND quyết định.

- Chậm nhất là 10 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp HĐND, người đã trả lời chất vấn có trách nhiệm gửi báo cáo về việc thực hiện nghị quyết của HĐND về chất vấn, các vấn đề đã hứa tại kỳ họp trước đến Thường trực HĐND để chuyển đến các đại biểu HĐND.

5. Xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp

- HĐND xem xét quyết định của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của mình theo đề nghị của Thường trực HĐND.

- HĐND xem xét văn bản quy phạm pháp luật quy định trên theo trình tự sau đây:

+ Đại diện Thường trực HĐND trình bày tờ trình; + HĐND thảo luận.

+ Người đứng đầu cơ quan đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật trình bày bổ sung những vấn đề có liên quan;

+ HĐND ra nghị quyết về việc xem xét văn bản.

- Nghị quyết của HĐND phải xác định văn bản quy phạm pháp luật trái hoặc không trái với Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp; trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp thì quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó. 6. Giám sát chuyên đề của HĐND

- Căn cứ chương trình giám sát, HĐND ra nghị quyết thành lập Đoàn giám sát chuyên đề theo đề nghị của Thường trực HĐND. Nghị quyết của HĐND về việc thành lập Đoàn giám sát phải xác định rõ đối tượng, phạm vi, nội dung, kế hoạch giám sát, thành phần Đoàn giám sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát. Đoàn giám sát do Chủ tịch HĐND hoặc Phó Chủ tịch HĐND làm Trưởng đoàn, các thành viên khác gồm Ủy viên của Thường trực HĐND, đại diện Ban của HĐND và một số đại biểu HĐND. Đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, tổ chức thành viên của Mặt trận có thể được mời tham gia Đoàn giám sát.

- Đoàn giám sát có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

+ Xây dựng đề cương báo cáo để cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo;

+ Thông báo nội dung, kế hoạch, đề cương báo cáo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày HĐND ra nghị quyết thành lập Đoàn giám sát; thông báo chương trình và thành phần Đoàn giám sát chậm nhất là 10 ngày trước ngày Đoàn tiến hành làm việc với cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát;

+ Thực hiện đúng nội dung, kế hoạch giám sát;

+ Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo bằng văn bản, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung giám sát, giải trình vấn đề mà Đoàn giám sát quan tâm;

+ Xem xét, xác minh, mời chuyên gia tư vấn về vấn đề mà Đoàn giám sát xét thấy cần thiết;

+ Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Đoàn giám sát có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan áp dụng các biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và khôi phục lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị vi phạm; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý, xem xét trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật;

+ Khi kết thúc hoạt động giám sát, Đoàn giám sát báo cáo kết quả giám sát để HĐND xem xét tại kỳ họp gần nhất. Trước khi báo cáo HĐND, Đoàn giám sát báo cáo Thường trực HĐND về kết quả giám sát.

- HĐND xem xét báo cáo của Đoàn giám sát theo trình tự sau đây:

+ Đoàn giám sát báo cáo kết quả giám sát;

+ Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo, giải trình;

+ HĐND thảo luận. Trong quá trình thảo luận, đại diện Đoàn giám sát có thể trình bày bổ sung về những vấn đề liên quan;

+ HĐND ra nghị quyết về vấn đề được giám sát. Nội dung nghị quyết giám sát chuyên đề theo quy định tại khoản 4 Điều 16 của Luật này.

- Nghị quyết giám sát được gửi đến cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan./.


(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân