Nhà văn Lê Hoài Nam thực hiện
![]() |
| Thượng tướng, Viện sĩ Nguyễn Huy Hiệu. |
- Được biết, trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27, Sư đoàn 320B Quân đoàn 1, Binh đoàn Quyết Thắng - một trong năm cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn. Đối với Thượng tướng, kỷ niệm đặc biệt về chiến dịch này như thế nào?
![]() |
| Má Sáu Ngẫu (đeo kính) chỉ đường trên bản đồ (Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu – thứ hai từ phải sang). |
- Chiến dịch lịch sử ấy để lại trong tôi nhiều kỷ niệm. Bắt đầu là cuộc hành quân thần tốc. Từ Tam Điệp - Ninh Bình, Trung đoàn 27 của chúng tôi hành quân thần tốc 1700 km vào Đồng Xoài. Có chuyện rất đáng nhớ xảy ra. Đó là chiều 29 tháng 4 năm 1975. Đội hình của Trung đoàn 27 vào tới Búng thì quân địch từ Bến Cát - Bình Dương bị đánh tan, chúng rút về tử thủ trước cửa ngõ Sài Gòn. Mũi tiến công của tôi đi theo bản đồ tác chiến. Trong quá trình hành quân, chúng tôi bắt được khá nhiều tù binh ở Tân Uyên, Bình Chuẩn, Bình Cơ, Bình Lũy, đường 16… Chúng tôi yêu cầu họ lên xe dẫn đường cho quân giải phóng. Tối 29-4 chúng tôi cùng tổ trinh sát về tới Búng, nhìn thấy bên kia khu nghĩa địa là ngôi làng. Chúng tôi quyết định đi qua nghĩa địa vào làng. Tôi, anh Thư, anh Giáp và một tổ trinh sát bám vào hàng cây bên đường đi về phía quận lỵ. Khi đến gần nghĩa địa của khu vực Búng, chúng tôi thấy một ngôi nhà lụp xụp, trong nhà le lói ngọn đèn dầu. Tôi nói 3 trinh sát vào bắt liên lạc. "Cộc, cộc, cộc" - Sau tiếng gõ cửa của trinh sát, tôi thấy trong nhà có tiếng bước chân, cùng với ánh đèn sáng dần ra phía cửa:
- Ai đấy? - Tiếng bà má vừa như thăm dò, vừa có vẻ thờ ơ.
“Chúng tôi là quân giải phóng, là Bộ đội Cụ Hồ” - chiến sĩ trinh sát trả lời. Nghe mấy tiếng Bộ đội Cụ Hồ, má mạnh dạn ra mở cửa, giơ cao ngọn đèn, nhìn kỹ người chiến sĩ. Nhận ra ám hiệu - miếng vải đỏ trên ngực - giọng má bỗng trở nên nghiêm trang và xúc động:
- Hồ Chí Minh.
Phấn khởi tìm được cơ sở, đồng chí trinh sát như reo lên khi đáp lại mật khẩu chiến dịch:
- Muôn năm!
Nhận ra bộ đội giải phóng, má cầm tay từng người giục:
- Các con vào đi! Vào đi. Má không ngờ các con về sớm thế.
Tôi, anh Trịnh Văn Thư và Sáu Châu, huyện đội phó vào nhà. Tôi nhìn một lượt căn nhà lợp tôn, chiếc bàn gỗ đã cũ, hai chiếc giường đơn sơ. Gia tài cũng không có gì. Đợi chúng tôi ngồi xuống, má nói: Bây giờ các con cần má giúp những gì?
Tôi nói tóm tắt nhiệm vụ của đơn vị và đề nghị má:
- Chúng con chưa nắm chắc địch và địa hình ở quận lỵ Lái Thiêu. Con nhờ má bày cho!
Tôi đưa cho má xem tấm bản đồ quân sự. Nhìn qua má bảo:
- Má không rành bản đồ này. Đợi má chút xíu.
Lát sau, má trở ra, mở bọc giấy báo, cẩn thận trải tờ giấy đã ố vàng lên mặt bàn. Mọi cặp mắt đổ dồn vào những nét vẽ chằng chịt, lòng hứng khởi tràn đầy. Giọng má hơi chùng xuống: Đây là bản đồ Đô thành Sài Gòn. Anh Tư Ca (Tư Ca tên thật là Đinh Quang Kỳ, quê Đức Thủy, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Ông theo đoàn quân Nam tiến vào miền Nam từ năm 1945) giữ từ năm 1961.
- Thưa má, bây giờ anh Tư Ca ở đâu ạ?
- Anh Tư Ca là chồng má. Hồi nớ ảnh và anh em du kích xã định diệt quân địch ở quận lỵ. Chuyện lộ, ảnh bị bắt giam ở nhà tù Phú Lợi. Sau khi ra tù, ảnh tiếp tục hoạt động làm tuyên giáo phụ trách tờ báo của tỉnh Thủ Dầu Một. Năm 1968, trong chuyến đi công tác, ảnh lọt vào ổ phục kích của địch. Ảnh bị địch bắn vào chân. Chúng xông lại thu đài bán dẫn và lột nhẫn của ảnh. Ảnh mắng vào mặt tụi nó. Bọn địch xả súng bắn chết ảnh. Riêng bản đồ của ảnh má vẫn giữ được. Và cứ mỗi lần có sự thay đổi về phạm vi, lực lượng... má lại vẽ bổ sung trên toàn tuyến phòng thủ từ chi khu Lái Thiêu vào Sài Gòn. Má thuộc nằm lòng mà.
Bên cạnh nét mực đã mờ là những đường chì nhìn còn vụng về nhưng tỉ mỉ, chính xác. Mười bốn năm trời âm thầm, cần mẫn thay chồng, thay các chiến sĩ du kích Lái Thiêu đã hy sinh và đang bị cầm tù, má nắm tình hình địch và ghi vào bản đồ với tất cả niềm tin chiến thắng.
Má xoay tấm bản đồ về phía tôi, cặp kính lão trễ xuống tận cánh mũi, má nói:
- Ngày hôm qua, chúng điều một tiểu đoàn bảo an từ Sài Gòn ra và hai khẩu pháo 175 từ Bình Dương về tăng cường cho Lái Thiêu. Trung tâm huấn luyện Huỳnh Văn Lương có gần 2.000 tên.
Ngoài ra còn một số tàn quân từ các nơi chạy về...
Vừa nói má vừa chỉ vào những ký hiệu đánh dấu các vị trí mới của địch trên bản đồ. Tôi và mọi người theo dõi một cách chăm chú. Má nói tiếp:
- Toàn bộ quân địch ở quận lỵ Lái Thiêu là vậy, tấm bản đồ này má trao lại cho mấy con.
Cầm tấm bản đồ trên tay, chúng tôi vô cùng cảm động. Chúng tôi chào má và nhanh chóng lên đường. Má xin được trực tiếp dẫn đường cho đơn vị.
Thấy má đã già yếu, tôi nói:
- Cảm ơn má! Chúng con sẽ quét sạch địch ở Lái Thiêu, mở đường cho đại quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước để trả thù cho má, trả thù cho bà con cô bác ở Lái Thiêu. Ngày mai, con sẽ trở lại thăm má.
Biết chúng tôi không để cho má đi, má hướng về phía sau nhà gọi:
- Phước, Đức đâu? Vào má bảo.
Thì ra, trong lúc trao đổi với chúng tôi, má giao các em làm nhiệm vụ cảnh giới. Ngay lúc đó, Hai Mỹ (Bí thư Huyện Đoàn Lái Thiêu) đến. Má nói với Hai Mỹ:
- Má xin dẫn đường, nhưng mấy anh không chịu. Các con thay má làm nhiệm vụ dẫn đường cho đơn vị. Các con phải gắng mà hoàn thành.
Tôi nói:
- Sáu Châu, Hai Mỹ dẫn chúng con là được rồi, còn em Phước (17 tuổi), em Đức (13 tuổi) còn nhỏ để em ở nhà giúp má.
Sáu Châu và Hai Mỹ cùng chúng tôi nhanh chóng về nơi tập kết.
Sáng hôm sau, Tiểu đoàn 3 bắt đầu tấn công. Nghe theo lời má Sáu Ngẫu, chúng tôi dùng loa kêu gọi 2000 lính ở trại Huỳnh Văn Lương đầu hàng. Chúng tôi tấn công qua Lái Thiêu, bắn cháy 2 xe và bắt sống 2 pháo 175 (Vua chiến trường). Đến cầu Vĩnh Bình phát hiện các ổ tử thủ, chúng tôi hạ lệnh cho 12ly7 và 37 ly chúc nòng bắn. Chiếc xe tăng của Đại đội trưởng Hoàng Thọ Mạc bị trúng đạn, hỏng. Hoàng Thọ Mạc nhảy ra khỏi xe tiếp tục chỉ huy tổ B40, B41 chiến đấu và hy sinh. Tôi quyết định đưa Hoàng Thọ Mạc lên xe để tiếp tục tiến công. Chúng tôi vượt qua cầu, tiến thắng vào Bộ Tư lệnh Thiết giáp ngụy, chiếm luôn 13 căn cứ của lục quân công xưởng ở Gò Vấp, gồm có trung tâm truyền tin, trung tâm tiếp huyết, trung tâm chỉnh hình, công xưởng, căn cứ 30, tổng y cộng hòa… Lúc đó khoảng 10 giờ. Rồi chúng tôi cùng với các đơn vị tiến công tiêu diệt tiếp các mục tiêu còn lại.
Những ký ức ấy cứ theo tôi trong suốt chặng đường 52 năm qua, bởi đó là những ngày cùng đồng đội vượt qua biết bao gian khó, thiếu thốn nhưng luôn một lòng quyết tâm, hướng tới ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
- Thưa Thượng tướng, ông có dịp trở lại chiến trường xưa chưa?
- Cùng chiến đấu với tôi có rất nhiều đồng đội của tôi hy sinh. Ngay khi còn chiến đấu, tôi nuôi ý định, khi cuộc chiến kết thúc tôi trở lại làm điều gì đó để tri ân họ. Việc đầu tiên tôi làm là vận động các đồng đội, cùng với các tổ chức và nhân dân đi tìm và quy tập những đồng đội hy sinh mà tôi biết họ nằm ở những vị trí nào. Việc thứ hai tôi làm là viết sách nói về những chiến công và những hy sinh của đồng đội. Đến nay, tôi có 9 cuốn sách tổng kết những công việc mình đã làm, chủ yếu viết về khoa học quân sự, đúc rút những kinh nghiệm trong chiến tranh, trong phòng chống bão lũ thiên tai… Ngoài ra có cuốn tôi kể cho các nhà văn, nhà báo viết, như các cuốn Một thời Quảng Trị, Bến sông tuổi thơ, Vị Tướng có duyên với con số 7, Hoài niệm chiến trường xưa và đồng đội, Vị tướng với tấm lòng tri ân, Những bước chân không mỏi của người Anh hùng… Còn việc thứ ba là tôi vận động các địa phương, những nhà hảo tâm, doanh nhân xây dựng những công trình hoài niệm, tri ân. Hiện, chúng tôi vừa khởi công xây dựngkhu tưởng niệm ghi danh 2352 liệt sĩ của Trung đoàn 27 – B5 tại xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, Quảng Trị. Sau công trình này, chúng tôi làm công trình bia ghi danh trận đánh mở màn chiến dịch Quảng Trị 1972 ở cao điểm 322, 288 và 544 Phu Lơ và 1 bia sở chỉ huy trung đoàn cánh đông, do đồng chí Cao Uy chỉ huy, cũng ở Triệu Long, Triệu Phong, Quảng Trị.
- Chân thành cảm ơn Thượng tướng! Chúc ông khỏe mạnh, tiếp tục “Những bước chân không mỏi của người Anh hùng” như tên cuốn sách đã viết về ông!