Lê Nhi
![]() |
| Hát quan họ trên thuyền. |
Lễ hội Lim 2017 có nhiều đổi mới vì cơ sở hạ tầng được đầu tư như quảng trường đồi Lim và các công trình phụ trợ được lát đá khang trang. Vậy nên các nhóm hát quan họ không phải căng bạt lên thành các chòi hát như mọi năm, thay vào đó là các chòi hát được bê tông hoá. Đến hội Lim để cảm nhận cái hay cái đẹp của quan họ, nhưng theo nhận xét của nhiều người, nhiều năm rồi hội Lim hầu như không đáp ứng mong mỏi của du khách, khi nghe hát quan họ trên chiếc thuyền nhỏ, trong một không gian nhỏ. Trước khi có chòi hát Lim, những năm trước trên đồi Lim hàng chục chiếc lều tạm được dựng lên, mỗi lều gồm đại diện 1 làng quan họ thi nhau hát qua loa phóng thanh.
Trong khi di sản quan họ chính là nghi lễ hát canh. Những người tham gia canh hát vừa phải có lưng vốn vài trăm bài, biết ca đủ lối đủ câu vừa tinh tường nghề chơi, hiểu sâu sắc mọi phong tục lẫn sự cầu kỳ trong phép tắc ứng xử, giao tiếp. Ở đó, sẽ được nghe quan họ một cách mộc mạc nhất, ngọt ngào nhất qua những chất giọng có thể nói đậm đặc thổ ngữ “quê mùa”, nhưng đó mới đúng chất quan họ mà không một nơi nào có được. Nghe quan họ kiểu cổ xưa là không cần nhạc đệm, chỉ có giọng hát cất lên, bên nam đối với bên nữ. Đó là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian của xứ Kinh Bắc với những quy định khắt khe, đòi hỏi những người hát như liền anh, liền chị phải am tường các tiêu chuẩn, tuân thủ luật lệ. Trong các luật lệ cổ, một canh hát quan họ có ba chặng.
Thứ nhất là phải hát “lề lối”, tức giọng cổ : “hừ là, là rằng, ái ả”, giọng “kim lang”, hay giọng “cây gạo”, là những giọng rất khó và đặc biệt là chú trọng về những kỹ thuật hát như “vang, rền, nền, nảy”. Khi nào hát xong các bài giọng lề lối đó thì mới chuyển sang hát giọng vặt, gồm những bài hát hoa lá, nói về tình yêu, nói về cảnh vật, nói về nỗi lòng…Có lẽ chính vì cái quy định ngặt nghèo là người quan họ đã kết bạn với nhau thì không được lấy nhau nữa nên những canh hát càng chất chứa nhiều nỗi niềm, càng lay động lòng người. Sau khi hát xong giọng vặt rồi, mới tới giọng cuối cùng là “giã bạn”.
Màn giã từ nhau này thường nhiều quyến luyến, nhiều khi hát giã bạn tới hai, ba giờ. Bình thường một canh quan họ có thể hát từ 7 giờ tối đến 2, 3 giờ sáng hôm sau. Có những nơi có thể kéo dài hai, ba đêm. Càng nghe về khuya mới càng ngấm. Ngày nay, dân ca quan họ phát triển và hoàn chỉnh cả về phương diện âm nhạc, lời ca và hình thức trình diễn. Các làn điệu quan họ ngày càng phong phú hơn và đều có phong cách riêng kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền thống và hiện đại. Lối hát quan họ mới được nhiều người chấp nhận vì dễ học, dễ hát, không phải tập luyện nhiều, tiết tấu nhanh, phát âm tiếng đơn rất ít kỹ thuật rền, nảy. Quan họ mới cũng sử dụng đàn organ nên không tránh khỏi sự gấp gáp, khô cứng làm mất đi chất mượt mà, thanh cao, bác học vốn có của dân ca quan họ cổ. Điều này chắc hẳn những người làm nhiệm vụ lưu giữ quan họ xác định chưa đúng mục đích lễ hội, vừa muốn gìn giữ giá trị cổ truyền, vừa muốn có doanh thu, nên xuất hiện các đoàn “quan họ xung kích”, “quan họ ngả nón xin tiền” với kiểu hát khác hẳn lối hát canh, có trình tự của các nghệ nhân.
Cho đến bây giờ, những canh quan họ truyền thống cũng ít xuất hiện. Thế nhưng cứ dịp đầu xuân, trong các tiết lễ hội làng, đình đám, những anh hai, chị hai ở Diềm, ở Bịu hay một số làng quan họ vùng Lim còn nặng lòng với nghề chơi vẫn cố công duy trì một vài canh hát mộc theo lề lối như một cách bày tỏ tấm chân tình với những vị khách “sành” quan họ và quan trọng hơn là để bảo tồn, gìn giữ vốn cổ quý hiếm của di sản văn hóa quan họ. Hẳn những canh hát này sẽ khó thấy ở hội Lim.
Sau khi quan họ vinh danh di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, 7 năm qua một chiến lược bảo tồn di sản quan họ cũng đã được đưa ra. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Viện Âm nhạc, Sở VHTT&DL Bắc Ninh, Bắc Giang… thực hiện nhiều biện pháp bảo vệ di sản quan họ. Nhưng quảng bá quan họ trong khuôn khổ một lễ hội như cách lâu nay vẫn làm có lẽ là chưa thực sự tôn vinh được giá trị của di sản văn hóa mà UNESCO ghi nhận.