(HPĐT)- Nhà văn Vân Hạ rất giỏi miêu tả. Truyện của chị thường viết về những thân phận bình thường trong xã hội, như: người lái xe ôm, chị bán bún, cô bán trái cây, ông bán vé số…, nhưng trang văn nào cũng sinh động và đặc quánh mùi vị của cuộc sống. “Hy vọng ở ngày mai” là câu chuyện xoay quanh người phụ nữ bán quả thơm (hay còn gọi là quả dứa), dường như truyện chả có gì đáng kể, nhưng dưới ngòi bút tinh tế của tác giả, cuộc sống của bà con vùng Trung Nam bộ hiện lên như thước phim quay chậm, chân thực đến từng chi tiết, với những âm thanh, hình ảnh gợi cảm giác u hoài, man mác, thương cảm và tràn ngập sự ấm áp. Ấm áp là vì con người với con người sống với nhau thật tử tế, thật nhân văn, sẵn sàng trao cho nhau thật nhiều… hy vọng! Hy vọng vào điều gì? Vào những điều tốt đẹp ở tương lai. Chính bởi sự ấm áp đó mà người ta thấy ấm lòng. Và sự ấm lòng đã níu người đọc lại tới con chữ cuối cùng là vì thế!

Nhà văn Nguyễn Đình Tú
Ai về Vạn Giã
Nhắn ả bán thơm
Thế gian lắm miệng lắm mồm
Nói đông thì ngọt nói nồm thì chua.
Tôi chế câu đầu bài ca dao thành “Ai về Phước Hải, hỏi Ngãi bán thơm (*)” để chọc ả. Mỗi lần đi chợ qua chỗ ả ngồi bán tôi hay chọc một câu “Ả bán thơm”. Ả ngẩng lên cười rồi lại cúi xuống nhoay nhoáy gọt. Có bữa ả đáp lại. “Ăn thơm đi, sáng giờ đang ế quá này”. Đối đáp được câu đó là ả còn vui. Có bữa ả chỉ đáp lại bằng vẻ cau có rầu rầu. “Bữa nay mưa xuống thơm hư hết, bán không được”.
Trước dịch COVID-19 ả bán bún cá, cũng chỗ này, trên vỉa hè. Gần như ngày nào cũng có người đàn ông khiếm thị ghé ăn. Người đàn ông đi bán vé số, cũng có ngày ông bán mấy thứ lặt vặt như: bông tăm, bàn chải răng. Người mua thường nhét tiền vào túi áo ngực cho ông nên tôi không biết bằng cách nào ông nhận mặt được mệnh giá tờ tiền. Ả quả quyết: “Ổng mù mà ổng đếm bước hay lắm, ổng đếm bước từ bùng binh vô đây, cứ tới đúng chỗ này ổng dừng lại gõ gõ đầu gậy xuống đường. “Cho tôi hỏi tới hàng bún cô Ngại chưa”. Ông ta hay phát âm cái tên Ngãi thành Ngại.
Tôi không tin ổng đếm bước mà nhớ được, tôi nghĩ ổng nghe mùi. Món bún phở nào chả có mùi đặc trưng. Bún cá của Ngãi lại có mùi mắm tôm, mắm ruốc. Nồi nước lớn mở nắp bốc hơi nóng giãy lại chả tỏa mùi ra khắp thiên hà.
- Ổng ăn cay ghê lắm - Ả kể - Tô của ổng khi nào cũng phải nêm nhiều ớt. Có bữa đông khách tui quên thì ổng nhắc cho tôi xin thêm chút ớt. Thường sẽ có người ngồi gần lấy cho ổng, nhưng họ không biết nên thường lấy không đủ đô, tui phải chỉ đạo họ “nữa, thêm nữa, rồi được rồi”. Ổng ăn thử thấy vừa rồi mới nói cảm ơn.
Có lẽ chưa ngày nào người đàn ông phải trả tiền. Thường sẽ có khách ăn nào đó tự nguyện trả cho ông. “Tô của ông chú để tôi trả luôn cho”. Người đàn ông nghe vậy đã thành quen, ông nói cảm ơn, cầu phúc lành cho anh (chị). Cũng có người không nói, họ ra hiệu cho Ngãi bằng cách chỉ vào tô của họ rồi chỉ nhanh sang tô của ông và giơ hai ngón tay. Ả sẽ nói với người đàn ông có người trả tiền cho chú rồi nha. Người đàn ông lại cảm ơn, cầu phúc trước khi cầm gậy đứng lên. Cũng có ngày vắng khách, hay bữa đó không có khách nào trả cho ông thì ông ta móc nắm tiền trong túi áo ra đưa cả cho Ngãi, ý nói nhờ cô tự đếm lấy đủ tiền tô bún. Và Ngãi sẽ nói thôi bữa nay tui mời chú, chú uống nước rồi đi bán đi. Và người đàn ông lại nói như mọi bữa. Cảm ơn cô, cầu phúc lành cho cô.
Nhưng cơ hội để người đàn ông cầu phúc cho mọi người tới lúc bị ngắt đoạn. Dịch COVID-19 tràn tới. Chợ đóng. Nhà nhà đóng cửa. Con đường qua chợ trở nên rộng rinh, thông thoáng quá mức. Thông thoáng vắng lặng đến cô liêu. Người ta bỗng nhớ ra nhiều năm nay chính quyền địa phương nhiều lần quyết tâm dẹp vỉa hè lòng đường khúc này nhưng bất lực, nhiều lần “ra quân”, nhưng vẫn không giữ được thành quả.
Vì vậy khi dịch tạm lui rồi qua đi như cơn bão, chợ hoạt động trở lại, người ta không muốn mất đi hiện trạng thông thoáng đã phải trả giá bằng trận dịch kinh hoàng mới có được. Có nghĩa Ngãi không được bán bún nữa, không được chiếm vỉa hè bày bàn ghế, không được để khách ăn dựng xe máy ngang dọc lộn xộn dưới lòng đường.
Ả chuyển qua bán trái cây, chỉ bán thứ theo mùa. Vẫn chỗ cũ nhưng chỉ ngồi gọn góc nhỏ. Người đi ngang chỉ dừng xe mua xong phóng đi luôn. Khi bán mít, lúc sầu riêng, có khi bán mía tím. Và mùa này chỉ bán thơm. Mít phải xẻ ra, lột xơ lấy cùi gọt vỏ gai sạch sẽ cho khách. Sầu riêng phải tách vỏ gạt từng múi một bỏ hộp. Mía cũng phải róc vỏ cắt khúc ngắn đóng bị. Thơm thì gọt vỏ lấy mắt. Người ta chỉ có hai tay, không mọc thêm tay được, bán một thứ cũng đuối rồi. Có lần, cụ bà tới nói bán cho năm nghìn mít. Mít 20, 25 nghìn/kg cả vỏ, cả cùi, 5 nghìn thì bán sao? Ả khẽ thở dài cắt một góc nhỏ, khoét cùi gọt vỏ sạch sẽ đưa cho bà, không cầm tờ 5 nghìn bà già đưa, nói thôi bà cất đi, lúc nào thèm gì thì ăn. Cụ bà đi rồi, ả nói: “Bà tám mươi mấy rồi. Nhà có tiền lắm chứ không có nghèo. Con bà giàu lắm. Nhưng người già là vậy, hay thèm nhưng đâu có ăn được nhiều. Có khi còn không biết năm nghìn là bao nhiêu”.
Một lần, chợt thấy người đàn ông mù đi qua, Ngãi nói nhỏ không biết hồi dịch ông này ổng ăn đâu. Còn tôi càng khẳng định chuyện ổng dừng chân đúng hàng bún của ả trước kia là nghe mùi, không phải đếm bước. Vì bữa nay khi Ngãi bán trái cây, rõ ràng ông ta không dừng chân chỗ này.
- Nhưng nghe tiếng tui là ổng nhận ra.
Ngãi kể sáng hôm bữa dậy trễ, thấy bánh xe mềm nhưng vẫn liều đi xuống chợ đầu mối, sợ không lựa được hàng. Chiếc xe 50 cũ cùi bắp nhưng được cái ít hao xăng. Yên sau đặt ngang khung sắt để chở hàng, những bành thơm xếp hai bên và chính giữa, quấn dây chằng cao vượt đầu người cầm lái. Mỗi bành 12 trái. Ả chở thơm chạy chưa được nửa đường thì xe đổ đúng khúc lên dốc, cả người, cả thơm văng tung xuống đường. Lúc đó mới rạng sáng. May gặp mấy người đi thể dục về người ta xúm dựng xe, lượm thơm xếp lên lại xe cho. “Lúc đó tui thấy tủi ghê gớm. Ngồi được lên xe rồi, thấy không đau ở đâu biết xương cốt không sao tui mới nói cảm ơn, may mà gặp được mấy anh mấy chị không thôi… Mới nói vậy tự nhiên nghe có người kêu. “Cô Ngại phải không? Phải cô Ngại bún cá không?”. Biết ai không? Ông già bán bông tăm đó. Nghe tiếng thôi mà ổng nhận ra tui. Hóa ra ổng đi bán khắp nơi.
Rồi bữa kia tui đang cự cãi với mụ bán cá giữa chợ, ngó vậy chứ tui không có hiền đâu nha. Giờ lớn tui bớt bớt rồi đó chứ hồi trẻ tui dám quánh lộn không ngán thể loại nào đâu á (cười). Đang cãi lộn tự nhiên nghe tiếng ông già. “Cô Ngại hả cô Ngại?”, hóa ra ổng vừa đi tới đó nghe tiếng tui. Nghe tiếng tui cãi lộn mà ổng cũng nhận ra, hài dễ sợ, thấy mắc cỡ không?
Mỗi ngày ả phải dậy từ 2 giờ sáng xuống chợ đầu mối. Chở thơm về tới nơi nhờ ánh đèn đường ngồi gọt luôn tới sáng để kịp bán cho những người đi thể dục, đi tắm biển về qua. Rồi gọt tiếp bán cho người đi chợ. Trưa dọn xếp hết lại một góc, phủ tấm bạt để đó về nấu cơm. Chiều ra bán tiếp. Mùa hè nắng chiều chiếu xiên qua tán dù rọi xuống chân.
- Vậy chứ tui sắm đồ cho con tui toàn hàng hiệu không. Ra ngoài không ai biết nó con nhà nghèo. Tui coi phim, thấy trong phim người ta vận đồ như nào, màu nào đi với màu nào tui sắm cho nó y vậy. Thằng lớn ốm mà cao không có bụng tui tư vấn cho nó mặc sơ mi sáng màu, quần vải cứng ăn li ủi cho đẹp. Thằng nhỏ bụng bự đùi bự tui cho nó mặc áo thun rộng, quần thun ống túm. Quần ka ki cũng ka ki thun, quần jean cũng jean thun, nhìn đỡ thấy nó mập. Nó ngạc nhiên hỏi sao mẹ biết đồ hiệu nọ hiệu kia hay vậy. Tui nói mày tưởng mẹ ngồi chợ thì không biết thời trang hả (ả cười). Tui từng có hồi ngồi két quán cà phê chứ tưởng hả? (Có một thời, các quán cà phê chưa nhiều như bây giờ, các cô được lựa chọn ngồi két thường phải có nhan sắc, dễ thương một chút, đủ sức trồng cây si cho quán).
- Con tui nó học giỏi lắm, nên khổ mấy tui cũng ráng cày lo cho nó học. - Nó học trường nào?
Ý tôi hỏi nó học đại học nào, nhưng Ngãi nói tên trường phổ thông trong thành phố làm tôi bất ngờ, xong liền nhớ ra trai gái thời nay có xu hướng kết hôn muộn. Ba mấy bốn mươi tuổi vẫn lừng khừng ham chơi chưa muốn thực hiện nghĩa vụ cũng nhiều.
- Tui lấy chồng muộn, ba bảy tuổi mới có chồng.
Ngãi nói như đoán được tôi nghĩ gì. Thì ra không phải ả “ham chơi”.
Má mất lúc ngoài bốn mươi tuổi để lại 7 đứa con. Ngãi là chị Hai. Năm đó, Ngãi đang học trung học bỏ học về chạy chợ phụ ba nuôi 6 đứa em. Nghề đạp xích lô của ba lúc đó đang dần hết thời. Con em út lúc đó chưa đầy hai tuổi, đêm ngủ nó còn rờ vú chị…
Hèn gì trong chợ người ta nói ả ghê gớm, gai ngạnh lắm chứ không hiền gì. Khi ra chợ bon chen kiếm sống từ lúc mười sáu mười bảy tuổi làm sao khỏi không chao chát.
- Ủa, tui cũng muốn yểu điệu thục nữ, muốn tiểu thư trang đài chớ có muốn làm mụ phù thủy đâu.
Ả cười rồi tiếp. Ba mươi bảy tuổi tui mới có chồng…
Ngãi kể người đàn ông đó là người lỡ dở đã có con riêng. Bà nghĩ đi. Ba mươi bảy tuổi, nghèo, em một bầy lóc nhóc đằng sau, hết lo việc cho đứa này tới cưới vợ gả chồng đứa kia, phần mình có cái mạng chành với hai tay trắng, có người nhào vô ưng mừng muốn chết rồi mong gì nữa - Ả đùa.
Hai vợ chồng, hai đứa con ở trong căn nhà chín mét vuông đất. Nó là căn bếp cũ ba Ngãi nhường lại cho con gái lớn có chỗ ở. Muốn ở được phải làm cái bếp khác “đền bù” cho ba, rồi mới cải tạo căn bếp thành căn nhà, lên một gác lửng bằng gỗ ván làm chỗ ngủ. Cả “bốn mạng” nằm như phơi cá trên sàn gỗ, làm gì có phòng ốc? Mỗi lúc ông chồng nản chí lại tìm tới rượu bia. Đàn ông buồn thì mua rượu về nhậu chứ đàn bà dám không? Nghỉ chợ một ngày là mất tiền một ngày, rồi ai cơm nước cho con đi học về nó ăn. Về tới nhà là nó phải có cơm ăn liền để chiều đi học thêm…
Dưới “tầng trệt” nhà ả, thì cứ kêu vậy cho sang, là bếp và toilet. Nồi cơm điện để trên nóc tủ lạnh, hình như những người bán đồ điện máy thường khuyên không nên để như vậy. Một máy giặt nhét dưới gầm cầu thang gỗ. Chiếc bàn ăn nhỏ như loại bàn học của em bé cùng bốn chiếc ghế cũng nhỏ tương xứng được xếp gọn chỗ giữa chân cầu thang và tường, tới bữa mới bày ra sát cửa ra vào cho thoáng, ả nói thật ra chỉ để đồ ăn lên đó còn mỗi người một tô tùy nghi di tản, ngồi giữa cửa hay chân cầu thang tùy thích. Xong bữa xếp lại. Kệ để giày dép sát cửa ra vào. Trên nóc toilet là tấm đan để gác đồ đạc. Những gì treo được trên tường đều thượng hết lên tường. Tủ bếp tủ chén, quạt, xoong chảo, rổ rá và cả một cuốn lịch. Giữa nhà cũng có “phòng khách”, khoảng trống này tới bữa bày bàn ăn, ban đêm là chỗ dựng chiếc xe máy của đức lang quân, còn chiếc xe cũ của ả để ngoài đường, trước cửa, khóa xích lại. Hẻm nhỏ nhưng có lẽ người ta thông cảm không ai nói gì. Còn trộm cắp thì không sợ. Xe này giờ dân nghiện nó cũng không thèm. Xe đạp nó còn thích lấy hơn.
- Bà thấy dễ thương không? - Ả hỏi về “căn nhà”
- Dễ thương. Tôi đáp và hát một câu trong ca khúc “Chị tôi” của nhạc sĩ Trần Tiến. “Chị tôi trông dễ thương bán thơm chợ Cầu Đông í a”. Dễ thương cái con khỉ, ả nói. Bà biết lúc nấu cơm tui làm gì không?
Tui hát. Không mở điện thoại nghe nhạc thì tui tự hát. Hát câu gì biết không. Cắt đôi cắt đôi nỗi buồn, cắt đôi cắt đôi cái quần… Ả hát và cười.
- Buồn gì. Vợ chồng con cái khỏe mạnh, con trai thông minh học giỏi, mai mốt sung sướng đừng quên tôi nha.
Tự nhiên ả nhìn tôi cười, vẻ rầu rầu biến mất, giống như tình cờ tìm thấy tiền của chính mình kẹp trong cuốn lịch cũ bỏ quên đã lâu. Không ngờ câu đùa của tôi đã cho ả hy vọng thật.
Mai mốt, mai kia, khi nào… có nghĩa là Ngày Mai.
Dẫu sao cũng là hy vọng, có mất gì đâu.
…………………
* Thơm: quả dứa
Truyện ngắn của Vân Hạ