Kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2019; mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp năm 2020

01/11/2019 09:54

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2019

Từ đầu năm đến nay, tình hình quốc tế diễn biến phức tạp và có nhiều yếu tố không thuận lợi. Kinh tế thế giới có xu hướng tăng trưởng chậm lại với các yếu tố rủi ro, thách thức gia tăng do căng thẳng thương mại, bất ổn chính trị diễn ra ở nhiều khu vực. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tác động mạnh mẽ tạo ra những thời cơ và thách thức trong phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia. Trong nước, kinh tế tiếp tục đà tăng trưởng, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát nhưng cũng đối mặt nhiều khó khăn, thách thức với tăng trưởng chậm lại của một số sản phẩm công nghiệp, mặt hàng xuất khẩu chủ lực; biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, nhất là dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp trên diện rộng, gây thiệt hại nặng cho chăn nuôi.

Với định hướng chỉ đạo rõ nét, quyết liệt của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố, sự nỗ lực, đổi mới, sáng tạo, quyết tâm, đoàn kết, thống nhất cao của các cấp, ngành, địa phương, đơn vị và nhân dân, kinh tế - xã hội thành phố trong năm 2019 tiếp tục đạt được kết quả nổi bật, toàn diện trên mọi lĩnh vực.

Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng (Cảng Lạch Huyện)

I.Những thành tựu nổi bật trong phát triển kinh tế - xã hội của thành phố

1. Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu đều đạt mức tăng trưởng cao, hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch, có chỉ tiêu hoàn thành vượt mức mục tiêu kế hoạch 5 năm 2016 – 2020.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) ước đạt 16,5% (kế hoạch tăng 15,5% trở lên), cao nhất từ trước đến nay, gấp 2,4 lần bình quân chung cả nước(1), phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thành phố. Xét về giá trị tuyệt đối, với tốc độ tăng trưởng bình quân 10,5%/năm theo mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ 15, quy mô GRDP (theo giá so sánh) đến năm 2020 sẽ đạt khoảng 170 nghìn tỷ đồng. Với mức tăng trưởng 16,5% của năm 2019, ước hết năm 2019 quy mô GRDP (theo giá so sánh) của Hải Phòng đạt 179.846 tỷ đồng, vượt mục tiêu đề ra cho năm 2020, hoàn thành mục tiêu Đại hội trước 1 năm.

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 24,2% (kế hoạch tăng 22%). Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 15,77 tỷ USD, tăng 92,51% (kế hoạch tăng 23%). Vốn đầu tư toàn xã hội 152.960,5 tỷ đồng, tăng 39,69%, bằng 141,3% kế hoạch (kế hoạch 108.250 tỷ đồng). Sản lượng hàng qua cảng ước đạt 129,2 triệu tấn, tăng 18,51%, bằng 100% kế hoạch (kế hoạch 129,2 triệu tấn). Thu hút khách du lịch ước đạt 9.078,2 nghìn lượt, tăng 16,39%, bằng 100% kế hoạch (kế hoạch 9.078 nghìn lượt).

Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 89.617,8 tỷ đồng, tăng 20,2% so với cùng kỳ, bằng 129,3% dự toán HĐND thành phố giao, trong đó: thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu 60.000 tỷ đồng, tăng 27,5%, bằng 148,9% dự toán năm; thu ngân sách địa phương 29.617,8 tỷ đồng, tăng 7,63%, bằng 102,1% dự toán năm, riêng thu nội địa 27.000 tỷ đồng, tăng 8,97%, bằng 102,4% dự toán HĐND thành phố giao (dự toán năm 26.365 tỷ đồng).

2. Môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện

Tăng cường chỉ đạo đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nhất là chỉ đạo quyết liệt trong cải cách thủ tục đầu tư sản xuất kinh doanh, giải phóng mặt bằng, phát triển hạ tầng sản xuất kinh doanh để thu hút đầu tư. Thường xuyên bám sát tình hình sản xuất, kinh doanh, tập trung tháo gỡ vướng mắc, khó khăn cho doanh nghiệp. Tổ chức Hội nghị đối thoại doanh nghiệp hàng tháng và giải quyết kịp thời các kiến nghị, đề xuất tại hội nghị. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2018 của Hải Phòng đạt 64,48 điểm, đứng vị trí thứ 16/63 tỉnh, thành phố. Tiếp tục thu hút nhiều doanh nghiệp lớn trong nước đầu tư tại thành phố: Tập đoàn FLC, Tập đoàn Geleximco, Công ty cổ phần Lavifood… Tổng vốn đầu tư toàn xã hội là 152.960,5 tỷ đồng, tăng 39,69%; tỷ trọng vốn ngoài nhà nước và FDI chiếm 90,3% tổng vốn đầu tư trên địa bàn. Thu hút đầu tư nước ngoài đạt kết quả tích cực, tính đến ngày 22-10-2019 có 71 dự án được cấp mới và 39 dự án điều chỉnh tăng vốn, đạt 1.123,39 triệu USD; ước cả năm đạt 1,5 tỷ USD, bằng 100% kế hoạch (kế hoạch 1,5 tỷ USD); số dự án FDI còn hiệu lực trên địa bàn thành phố là 680 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký là 17,59 tỷ USD. Ước cấp đăng ký thành lập mới cho 3.056 doanh nghiệp với số vốn đăng ký 22.698,4 tỷ đồng, giảm 4,77% về số doanh nghiệp và tăng 1,16% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ; thực hiện thủ tục giải thể cho 196 doanh nghiệp và 599 chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh.

3. Kết cấu hạ tầng được tập trung đầu tư, tạo những bước đột phá mới, nhất là hạ tầng giao thông, hạ tầng đô thị, hạ tầng thương mại, dịch vụ

Khánh thành nhiều công trình như: khách sạn 5 sao Vinpearl Imperia; Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Phòng; cầu Hoàng Văn Thụ; cầu vượt nút giao thông Nguyễn Văn Linh; tuyến đường nối từ cầu Lạng Am đến cầu Nhân Mục, huyện Vĩnh Bảo. Khởi công Dự án đầu tư xây dựng cầu sông Hóa, tuyến đường trục từ nút giao Nguyễn Văn Linh đến ngã 3 đường Chợ Con. Các công trình đang triển khai đều bám sát kế hoạch tiến độ, sẽ hoàn thành trong năm 2019 và đầu năm 2020 như: nút giao Nam cầu Bính, 5 khách sạn 5 sao (Hilton, Nikko, Pullman, Flamingo Cát Bà, Mgallery Cát Bà). Thành phố đã quyết định chủ trương đầu tư 17 dự án có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, hạ tầng đô thị nhằm từng bước hoàn thiện kết nối liên vùng theo định hướng Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tiến hành sửa chữa, cải tạo, nâng cấp mặt đường các tuyến đường đô thị, đường tỉnh trên địa bàn thành phố. Hoàn thành cải tạo, mở rộng 9 nút giao thông để điều chỉnh phân luồng giao thông 8 tuyến khu vực trung tâm thành phố. Ngày 9-10-2019, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án đầu tư các bến cảng công- ten- nơ  số 3 và số 4 thuộc Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng.

Hạ tầng đô thị thành phố được quan tâm đầu tư, hoàn thành cải tạo khuôn viên Cung Văn hóa lao động hữu nghị Việt- Tiệp, chỉnh trang công viên cây xanh dải trung tâm tại khu công viên Rồng Biển; chỉnh trang lại sông Tam Bạc (đoạn từ cầu Lạc Long đến công viên Tam Bạc); tổ chức khởi công xây dựng khu chung cư HH1, HH2 và hạ tầng kỹ thuật, phường Đồng Quốc Bình; Dự án tổ hợp chung cư và dịch vụ thương mại tại Lô B - Dự án Khu đô thị ven sông Lạch Tray. Di chuyển các hoạt động vui chơi, giải trí từ vườn hoa Kim Đồng về Cung Văn hóa thiếu nhi thành phố. Tích cực triển khai cơ chế hỗ trợ vật tư (xi măng, gạch lát vỉa hè, pha đèn chiếu sáng và cây xanh) để cải tạo, nâng cấp hè, đường ngõ xuống cấp trên địa bàn các quận thuộc thành phố.

4. Tập trung nguồn lực xây dựng nông thôn mới, tái cơ cấu ngành nông nghiệp

Chỉ đạo các địa phương đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, tính đến hết năm 2019 có 139/139 xã đạt chuẩn xây dựng nông thôn mới, đạt tỷ lệ 100% (bình quân cả nước 50,26%; đồng bằng sông Hồng 83,69%), hoàn thành mục tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra trước 1 năm. Đối với huyện về đích nông thôn mới: huyện Cát Hải hoàn thành 9/9 tiêu chí; huyện An Dương, Kiến Thụy đạt 8/9 tiêu chí; các huyện còn lại cơ bản đạt 6/9 tiêu chí. Tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; triển khai xây dựng cơ chế mới để xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn 2020 - 2025.

Công bố các cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn thành phố; hoàn thành quy định cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, rau, quả trên địa bàn thành phố Hải Phòng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 trình HĐND thành phố thông qua. Tập trung thu hút các dự án nông nghiệp công nghệ cao, đã có 4 doanh nghiệp thực hiện các thủ tục đầu tư vào sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao với diện tích 454,46 ha, tổng vốn đầu tư 2.050 tỷ đồng; nổi bật, Công ty cổ phần Lavifood khởi công xây dựng Nhà máy chế biến nông sản tại thị trấn huyện Tiên Lãng, diện tích 15,46 ha, vốn đầu tư 1.800 tỷ đồng.

5. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội, công tác an sinh, phúc lợi xã hội tiếp tục được thành phố quan tâm chăm lo chu đáo, góp phần nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân

Các sự kiện chính trị, các ngày lễ lớn được tổ chức chu đáo, an toàn, văn minh, tạo không khí vui tươi, phấn khởi, tự hào trong mọi tầng lớp nhân dân. Các chính sách với người có công, thực hiện chính sách an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm thiết thực. Trong dịp Tết Nguyên đán, mức hỗ trợ đối với các gia đình chính sách là gia đình liệt sĩ, thương, bệnh binh, Mẹ Việt Nam anh hùng, người có công là 3,5 triệu đồng/người, đối với hộ nghèo là 1 triệu đồng/hộ, cao nhất cả nước; thăm hỏi tặng quà người có công và thân nhân nhân dịp kỷ niệm 72 năm Ngày Thương binh- Liệt sĩ, 74 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 với tổng số tiền là 175,67 tỷ đồng, trong đó quà của thành phố là 166,39 tỷ, tăng 7% so với cùng kỳ. Thành phố thực hiện chủ trương hỗ trợ tiền và xi măng, gạch để cải tạo, xây dựng nhà ở cho người có công với cách mạng.

Quy mô, chất lượng giáo dục đào tạo được bảo đảm, đạt kết quả tốt trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, quốc tế. Khánh thành và đưa vào sử dụng một số công trình trọng điểm của ngành Y tế. Dẫn đầu cả nước về thực hiện tự chủ tài chính bệnh viện công lập, đứng thứ 4 cả nước về ứng dụng công nghệ thông tin kết nối các nhà thuốc.

Nắm chắc tình hình địa bàn, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nhất là trong các dịp lễ, tết, các sự kiện diễn ra trên địa bàn, bảo đảm an toàn tuyệt đối.

Ảnh minh họa


II. Công tác chỉ đạo, điều hành và kết quả thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội

1. Tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và chuẩn bị đại hội Đảng các cấp

Trên cơ sở tổng kết sâu sắc 15 năm thực hiện Nghị quyết số 32-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa 9, Bộ Chính trị khóa 12 ban hành Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24-1-2019 về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Thành phố tổ chức tuyên truyền, quán triệt, triển khai Nghị quyết số 45-NQ/TW kịp thời, thiết thực, hiệu quả cao; tập trung cao xây dựng Chương trình hành động số 76-CTr/TU của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện nghị quyết; tổ chức Hội nghị cán bộ chủ chốt các cấp từ thành phố đến cơ sở để học tập, quán triệt Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chương trình hành động số 76-CTr/TU của Ban Thường vụ Thành ủy. Tổ chức và phối hợp tổ chức Hội nghị hợp tác giữa thành phố Hải Phòng và các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Thái Bình, Hải Dương, Quảng Ninh.

Chủ động, tích cực chuẩn bị báo cáo làm việc với Tiểu ban Văn kiện, Tiểu ban Kinh tế - xã hội Đại hội 13 của Đảng; tổng kết, đánh giá kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội 12 của Đảng, Nghị quyết Đại hội 15 Đảng bộ thành phố, đề xuất phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, các đột phá chiến lược phát triển thành phố 5 năm 2021 - 2025 về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại.

2. Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, điều hành

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành; phân cấp mạnh hơn gắn với trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, đơn vị. Chấn chỉnh thực hiện Quy chế làm việc của UBND thành phố, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn thành phố (trước hết là của người đứng đầu) trong giải quyết công việc, thực hiện nhiệm vụ được giao.

Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc thực hiện nhiệm vụ được giao đối với các ngành, địa phương; các kiến nghị của cử tri do Quốc hội, HĐND thành phố chuyển giải quyết.

Chủ động, sẵn sàng chuẩn bị, giải trình những vấn đề lớn, kiến nghị chính sách và triển khai thực hiện chính sách, pháp luật. Tích cực triển khai thực hiện các nghị quyết của Thành ủy, HĐND thành phố.

3. Kết quả thực hiện Chủ đề năm (2)

3.1. Về tăng cường kỷ cương thu, chi ngân sách nhà nước

- Tăng cường hoạt động của Ban chỉ đạo chống thất thu ngân sách các cấp. Tập trung rà soát, nắm chắc đối tượng, nguồn thu ngân sách trên địa bàn; thường xuyên kiểm tra, kiểm soát việc kê khai thuế, quyết toán thuế của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân để thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thuế, phí, lệ phí và thu khác vào ngân sách nhà nước. Xử lý kịp thời các tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước. Đẩy mạnh việc xử lý, thu hồi để giảm nợ đọng thuế. Chỉ đạo quyết liệt công tác đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng in, phát hành mua bán hóa đơn bất hợp pháp.

- Tập trung cao trong công tác đấu giá quyền sử dụng đất đối với các dự án đã được phê duyệt, đất xen kẹt, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thu tiền sử dụng đất để tạo nguồn thu cho ngân sách. Rà soát lại toàn bộ các dự án đấu giá đất, dự án kinh doanh nhà còn nợ tiền sử dụng đất để đôn đốc thu nộp tiền sử dụng đất vào ngân sách. Tiếp tục thực hiện ghi thu, ghi chi kinh phí ứng trước để chi bồi thường giải phóng mặt bằng các dự án được khấu trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của tổ chức, đơn vị phải nộp theo quy định.

- Triển khai xây dựng các Đề án: Chống thất thu thuế trong lĩnh vực vận tải; Quản lý thu tiền thuê đất, tiền thuế phát sinh tại các đơn vị quốc phòng, an ninh có sử dụng đất vào mục đích kinh doanh; Đổi mới công tác quản lý thuế đối với dịch vụ lưu trú du lịch. Tập trung rà soát đối với các doanh nghiệp có hưởng ưu đãi thuế, kịp thời phát hiện các doanh nghiệp có dấu hiệu khai sai, áp dụng ưu đãi thuế không theo đúng quy định của pháp luật; đề nghị doanh nghiệp điều chỉnh, nộp ngay các khoản thuế phát sinh vào ngân sách nhà nước, tránh tình trạng nợ đọng mới phát sinh.

- Kiện toàn tổ chức bộ máy ngành thuế, sáp nhập các Chi cục Thuế theo chỉ đạo của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế; đã thực hiện sáp nhập 8 Chi cục Thuế quận, huyện thành 4 Chi cục Thuế khu vực: Hồng Bàng - An Dương, Kiến An - An Lão, Đồ Sơn - Kiến Thụy, Vĩnh Bảo - Tiên Lãng.

- Cơ cấu lại chi ngân sách thành phố, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, ưu tiên tập trung nguồn vốn cho chi đầu tư phát triển; tổng chi ngân sách địa phương ước đạt 24.051 tỷ đồng, bằng 102,2% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 10.173,9 tỷ đồng, bằng 99,8% dự toán, chiếm 42,3% tổng chi ngân sách địa phương. Ngân sách thành phố bảo đảm đáp ứng đầy đủ, kịp thời các khoản chi thường xuyên theo dự toán được duyệt; ưu tiên kinh phí để giải quyết các chế độ, chính sách an sinh xã hội và các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

3.2. Về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh

Phối hợp với Bộ Công Thương tổ chức Hội nghị triển khai Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) - Một số cam kết quan trọng và những điều cần lưu ý; Hội nghị Phát triển dịch vụ logistics tại Hải Phòng - nâng cao năng lực cạnh tranh và đẩy mạnh liên kết vùng. Triển khai các biện pháp tuyên truyền, hỗ trợ doanh nghiệp đón bắt, tận dụng lợi thế của Hiệp định Thương mại tự do ViệtNam- EU (EVFTA).

Ban hành và tổ chức thực hiện Kế hoạch số 58/KH-UBND ngày 27-2-2019 về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp năm 2019; triển khai thực hiện Nghị định số 55/2019/NĐ-CP ngày 26-8-2019 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc, khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình cấp chứng nhận xuất xứ hàng hóa ưu đãi C/O. Thông tin, vận động các doanh nghiệp có ngành nghề, sản phẩm thích hợp trên địa bàn thành phố tham gia các chương trình hội chợ, triển lãm, hội nghị kết nối cung cầu trong nước, các hội chợ thương mại quốc tế, hội nghị kết nối xúc tiến xuất khẩu. Hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký, thông báo website thương mại điện tử với Bộ Công Thương. Duy trì và phát triển sàn giao dịch thương mại điện tử, bản đồ số mua sắm thành phố Hải Phòng. Tư vấn hỗ trợ và cung cấp cho doanh nghiệp các sản phẩm ứng dụng thương mại điện tử.

Tổ chức 14 hội nghị kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, doanh số giải ngân đạt 535 tỷ đồng, dư nợ đạt 398 tỷ đồng; 13 khóa đào tạo bồi dưỡng kiến thức quản trị kinh doanh và khởi sự kinh doanh cho hơn 400 học viên. Tiếp tục triển khai các kế hoạch hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ; hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm hàng hóa trọng điểm chủ lực năm 2019. Ngoài ra, Ban Quản lý Khu Kinh tế Hải Phòng tổ chức hội nghị tiếp xúc đối thoại doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, khu kinh tế định kỳ để kịp thời hỗ trợ, tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án đầu tư.

Tổ chức định kỳ Hội nghị đối thoại doanh nghiệp hàng tháng và giải quyết kịp thời các vướng mắc, khó khăn của doanh nghiệp tại hội nghị; 9 tháng đầu năm tiếp nhận 23 kiến nghị mới, đã giải quyết triệt để 14 kiến nghị, chiếm 60,9%; lũy kế từ năm 2016 đến nay tiếp nhận 285 kiến nghị, giải quyết triệt để 200 kiến nghị, đạt tỷ lệ 70,18%. Tập trung cao giải quyết các thủ tục về kinh doanh, đầu tư, xây dựng, giải phóng mặt bằng kịp thời cho các tập đoàn, doanh nghiệp lớn đang đầu tư trên địa bàn. Nhiều doanh nghiệp lớn trong nước và nước ngoài tiếp tục chọn Hải Phòng để đầu tư các dự án lớn.

Triển khai ứng dụng dịch vụ thuế điện tử (eTax) đối với người nộp thuế trên địa bàn thành phố. Tăng cường tuyên truyền, hỗ trợ doanh nghiệp nắm bắt chính sách thuế và cập nhật nội dung thay đổi của chính sách liên quan để thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh; hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện thủ tục về thuế, thực hiện kê khai, nộp thuế điện tử.

4. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 24,2%; một số ngành có chỉ số sản xuất công nghiệp tăng cao so với cùng kỳ như ngành sản xuất mô- tơ, máy phát điện, ngành sản xuất thiết bị truyền thông, ngành đóng tàu, sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng, sản xuất đồ điện dân dụng,... Tập trung giải quyết các tồn tại, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng cho các dự án phát triển công nghiệp lớn: Tổ hợp nhà máy sản xuất ô tô VinFast, Khu công nghiệp VSIP, Khu công nghiệp An Dương, khu vực đảo Cát Hải. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng hạ tầng Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải, các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn. Trình HĐND thành phố thông qua Chương trình hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp do ngân sách thành phố bảo đảm giai đoạn 2019 - 2025.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 135.338 tỷ đồng, tăng 14,95% so với cùng kỳ, bằng 100,9% kế hoạch. Sản lượng hàng qua cảng ước đạt 129,2 triệu tấn, tăng 18,51% so với cùng kỳ, bằng 100% kế hoạch. Tổ chức thành công chuỗi 3 sự kiện: Hội nghị Công Thương; Hội nghị Khuyến công, Hội chợ triển lãm hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu 28 tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc năm 2019 tại Hải Phòng. Vận tải hàng hóa trên địa bàn ước tăng 15,06% về tấn và tăng 4,23% về tấn.km; vận tải hành khách ước tăng 14,3% về người và tăng 12,25% về người.km so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 15,77 tỷ USD, tăng 92,51% so với cùng kỳ; tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 17,52 tỷ USD, tăng 120,59% so với cùng kỳ.

Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn đến 31-12-2019 ước đạt 208.347 tỷ đồng, tăng 13,06%; tổng dư nợ cho vay các thành phần kinh tế đến 31-12-2019 ước đạt 128.465 tỷ đồng, tăng 14,16% so với cùng kỳ.

Hoàn thành Đề án điều chỉnh cục bộ Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch bền vững quần đảo Cát Bà đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050; Đề án cơ cấu lại ngành du lịch thành phố đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Tuyên truyền, hướng dẫn các doanh nghiệp tham gia diễn đàn du lịch Thái Bình Dương lần thứ 5 và Triển lãm du lịch quốc tế Thái Bình Dương lần thứ 23 tại Vladivostok (Nga). Đề cử “Cá mòi kho Kiến Thụy” Hải Phòng tham gia hành trình tìm kiếm và quảng bá đặc sản Việt Nam 2019 của tổ chức Kỷ lục Việt Nam. Xây dựng chương trình hợp tác giữa thành phố Hải Phòng với thành phố Hà Nội và tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2019-2020. Tổ chức đón các đoàn famtrip từ các tỉnh, thành phố khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Cần Thơ, Đắk Lắk và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) đến khảo sát, ký kết hợp tác phát triển du lịch. Ước năm 2019 thu hút 9,08 triệu lượt khách, tăng 16,39% so với cùng kỳ, trong đó khách quốc tế đạt 0,93 triệu lượt, tăng 8,25% so với cùng kỳ; doanh thu ước đạt 3.500 tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ.

Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản năm 2019 (theo giá so sánh 2010) ước đạt 15.038 tỷ đồng, tăng 0,95% so với cùng kỳ (kế hoạch cả năm tăng 2%), trong đó: ngành nông nghiệp đạt 10.232,8 tỷ đồng, giảm 2,1%; ngành lâm nghiệp đạt 29,6 tỷ đồng, giảm 7,5%; ngành thủy sản đạt 4.775,6 tỷ đồng, tăng 8,24%. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, phát triển các nhóm cây trồng chủ lực, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp(3). Tập trung chỉ đạo, triển khai quyết liệt các biện pháp phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Phi theo Công điện số 667/CĐ-TTg ngày 4-6-2019 của Thủ tướng Chính phủ; tính đến 11-9-2019, dịch xảy ra tại 18.936 hộ, 1.222 thôn, 174 xã, phường thuộc 13 huyện, quận, số lợn tiêu hủy 180.825 con với trọng lượng hơn 9.620 tấn, chiếm 52,54% tổng đàn trước dịch.

5. Tiếp tục hiện đại hóa hạ tầng giao thông, hạ tầng đô thị, hạ tầng du lịch

Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hồ sơ điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Hải Phòng đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050; thực hiện Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐND ngày 12-7-2018 của HĐND thành phố về hỗ trợ cây xanh, pha đèn, gạch và xi măng cải tạo hè đường(4). Ban hành Kế hoạch số 186/KH-UBND ngày 11-7-2019 của UBND thành phố thực hiện Chỉ thị 05/CT-TTg ngày 1-3-2019 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chấn chỉnh công tác quy hoạch xây dựng, quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch được duyệt. Công tác quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố có nhiều chuyển biến tích cực, số vụ vi phạm phát hiện trong năm 2019 là 218 trường hợp, giảm 35,8% so với cùng kỳ năm 2018. Triển khai tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TU ngày 6-1-2009 của Ban Thường vụ Thành ủy về chủ trương, giải pháp tăng cường quản lý nhà nước, phát triển thị trường nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, bất động sản thành phố Hải Phòng đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Ban hành Quy chế phối hợp trong việc xây dựng, duy trì hệ thống thông tin, cung cấp thông tin, dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

Thực hiện chỉnh trang, bó gọn 25 km tuyến cáp trên các tuyến phố và 20 km tuyến cáp trong các ngõ ngách; thực hiện di dời 2 km tuyến cáp phục vụ giải phóng mặt thi công các dự án; hoàn thành ngầm hóa 100% các cáp ngoại vi viễn thông trên 4 tuyến đường Tam Bạc, Thế Lữ, Quang Trung, Trần Hưng Đạo thuộc quận Hồng Bàng và tại khu vực, tuyến đường trong phạm vi các dự án với tổng chiều dài gần 5 km. Triển khai thực hiện một số công trình để chống ngập trên địa bàn thành phố.

Hoàn thành cải tạo, mở rộng 9 nút giao thông để điều chỉnh phân luồng giao thông 8 tuyến khu vực trung tâm thành phố; tổ chức thực hiện điều chỉnh, phân luồng giao thông các tuyến phố khu vực trung tâm thành phố. Tiến hành sửa chữa, trải thảm mặt đường các tuyến đường đô thị, đường tỉnh trên địa bàn thành phố. Tăng cường quản lý trật tự lòng đường, vỉa hè, bảo đảm mỹ quan đô thị.

Đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án xây dựng Bến xe khách Hải Thành, bến xe khách Vĩnh Niệm và di chuyển bến xe khách Lạc Long để xây dựng bãi đỗ xe kết hợp trồng cây xanh; sắp xếp, điều chuyển các tuyến vận tải khách cố định tại bến xe khách Lạc Long để bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn thành phố. Bảo đảm trật tự an toàn giao thông tại các điểm giao cắt đường bộ đường sắt, không để phát sinh mới lối đi tự mở qua đường sắt trên địa bàn thành phố; không xảy ra đua xe trái phép, ùn tắc giao thông kéo dài. Xây dựng Đề án kiểm soát sử dụng phương tiện cơ giới cá nhân, điều tiết hợp lý các phương thức vận tải vào trung tâm thành phố và thí điểm cung cấp dịch vụ xe đạp công cộng tại một số khu vực trên địa bàn thành phố; Đề án tổng thể chống ùn tắc giao thông trên địa bàn thành phố; Đề án xây dựng Quy chế quản lý hoạt động vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt.

6. Quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2019 của 14 quận, huyện; phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đối với 7/7 huyện. Thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng, thu hồi 391,76 ha đất của 5.020 hộ dân và 61 tổ chức để phục vụ 51 dự án, công trình. Tổ chức đấu giá quyền sử dụng 431 lô đất (diện tích 5,75 ha) trên địa bàn các quận, huyện: Hồng Bàng, Kiến An, An Lão, Kiến Thụy, Tiên Lãng, Thủy Nguyên, thu ngân sách 129,3 tỷ đồng. Tổng hợp danh mục các dự án có nhu cầu sử dụng đất lúa, đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; các dự án phải thu hồi đất và mức vốn ngân sách cấp cho việc bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện năm 2020. Ban hành và triển khai kế hoạch cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các cơ sở tôn giáo trên địa bàn thành phố. Phê duyệt phương án thực hiện kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2019. Thanh tra, kiểm tra 145 tổ chức có dấu hiệu vi phạm pháp luật đất đai, bảo vệ môi trường, tài nguyên nước, khoáng sản; lập hồ sơ, xử phạt hành chính 52 tổ chức, số tiền phạt 1,8 tỷ đồng. Cấp 40 giấy phép xả nước thải vào nguồn nước.

Ban hành và triển khai Quy chế phối hợp quản lý nhà nước về khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu trên địa bàn thành phố Hải Phòng; Kế hoạch về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050; Kế hoạch hành động để giảm thiểu rác thải nhựa và ni lông, nói không với sản phẩm nhựa dùng một lần giai đoạn 2019-2020.

7. Phát triển văn hóa xã hội

- Tổ chức tốt việc thực hiện chính sách, thăm hỏi, tặng quà cho người có công với cách mạng nhân dịp lễ, tết(5). Bảo đảm 100% số người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình người dân nơi cư trú; 223/223 xã, phường, thị trấn làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện Nghị quyết số 32/2018/NQ-HĐND ngày 10-12-2018 của HĐND thành phố về cơ chế, chính sách hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở đối với hộ gia đình người có công với cách mạng có khó khăn về nhà ở trên địa bàn thành phố(6). Tỷ lệ hộ nghèo năm 2019 ước còn 0,81%, giảm 0,6% so với năm 2018, đạt 100% kế hoạch. Công tác chăm sóc người cao tuổi; bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ tiếp tục được quan tâm, triển khai đồng bộ.

- Tổng kết đánh giá 10 năm thực hiện Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 7-9-2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa 10) về đẩy mạnh công tác bảo hiểm y tế trong tình hình mới. Đẩy mạnh công tác thu, phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), đặc biệt là đối tượng tham gia BHXH tự nguyện; tỷ lệ người dân tham gia BHYT ước đạt 87,6%, đạt 100% kế hoạch. Thực hiện tốt công tác xét duyệt, giải quyết, chi trả chế độ BHXH, BHYT bảo đảm đúng thủ tục, thời gian quy định, quyền lợi của người tham gia và thụ hưởng chính sách được thực hiện kịp thời, đầy đủ. Kịp thời giải quyết những bức xúc, tranh chấp giữa người lao động và Công ty TNHH Kai Yang ViệtNamliên quan đến vấn đề về BHXH.

 - Giải quyết việc làm cho 54.900 lượt lao động, tăng 0,62% so với cùng kỳ và bằng 100,18% kế hoạch; tỷ lệ lao động qua đào tạo ước đạt 82,5%, đạt 100% kế hoạch. Tổ chức thành công Hội thi thiết bị đào tạo tự làm thành phố năm 2019 và tham gia Hội thi thiết bị đào tạo tự làm toàn quốc năm 2019, đứng thứ 3/56 đoàn dự thi toàn quốc. Thực hiện Kế hoạch hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn năm 2019 thông qua 16 cơ sở đào tạo, ước hỗ trợ đào tạo được 1.955 lao động nông thôn.

- Khánh thành và đưa vào hoạt động Bệnh viện Y học cổ truyền, Trung tâm Sơ sinh thuộc Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, Bệnh viện đa khoa Hải Phòng, Khoa khám bệnh Bệnh viện Vĩnh Bảo. Hoàn thành 100% việc sáp nhập và thành lập Trung tâm Y tế 2 chức năng (hạng 3) tại các quận, huyện trên địa bàn thành phố. Dẫn đầu cả nước về thực hiện tự chủ tài chính bệnh viện công lập, thành phố đã có 7/28 đơn vị tự chủ, trong đó có 2 đơn vị tự chủ nhóm 1, chiếm tỷ lệ 25%, cao hơn 2 lần bình quân chung cả nước (12%); đứng thứ 4 cả nước về ứng dụng công nghệ thông tin kết nối các nhà thuốc(7). Triển khai thí điểm bệnh án điện tử theo quy trình chuẩn của Bộ Y tế tại Bệnh viện đa khoa quốc tế Hải Phòng.

Tăng cường giám sát, phòng, chống dịch bệnh, không để dịch bệnh bùng phát trên địa bàn thành phố. Đẩy mạnh phát triển kỹ thuật cao tại các bệnh viện tuyến thành phố. Thực hiện tốt công tác an toàn thực phẩm, không để xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm. Công tác phòng, chống HIV/AIDS đạt kết quả tích cực, giảm cả 3 chỉ số (số người mới phát hiện, số chuyển AIDS, số ca tử vong) so với cùng kỳ. Hoàn thành 2 Đề án: mức giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ bảo hiểm y tế trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của nhà nước trên địa bàn thành phố; giá dịch vụ điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại các cơ sở điều trị của nhà nước trên địa bàn thành phố trình HĐND thông qua.

- Thành phố có 1 học sinh đoạt Huy chương Vàng tại cuộc thi Olympic Toán học Quốc tế 2019. Tổ chức tốt kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia và tuyển sinh đại học, cao đẳng, bảo đảm nghiêm túc, an toàn thuận lợi. Xây dựng chính sách hỗ trợ học phí cho học sinh từ bậc mầm non đến THPT trình HĐND thành phố thông qua. Tổ chức hội nghị triển khai Kế hoạch xây dựng văn hóa ứng xử, phòng, chống bạo lực học đường vì trường học hạnh phúc trong cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên thành phố. Chuyển đổi Trường đại học Dân lập Hải Phòng sang loại hình trường đại học tư thục và đổi tên thành Trường đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng theo Quyết định số 641/QĐ-TTg ngày 29-5-2019 của Thủ tướng Chính phủ.

- Ban hành Kế hoạch chuyển đổi và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015 vào hoạt động của UBND các xã, phường, thị trấn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2019-2020; Kế hoạch hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KH-CN) đến năm 2025. Phê duyệt danh mục 32 nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cấp thành phố (đợt 1), trong đó, tổ chức tư vấn thuyết minh 30 nhiệm vụ, tổ chức triển khai 20 nhiệm vụ. Tổ chức đánh giá, nghiệm thu 18 nhiệm vụ chuyển tiếp. Triển khai các hoạt động KH-CN hỗ trợ doanh nghiệp năm 2019, gồm: Hỗ trợ 5 doanh nghiệp xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ; 5 doanh nghiệp tham gia chương trình nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa trọng điểm chủ lực; 3 dự án quản lý, khai thác và phát triển nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm đặc sản, làng nghề; 5 dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; tổ chức Ngày hội khởi nghiệp Techfest Haiphong lần thứ 3. Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 75-KL/TU ngày 26-8-2019 của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khóa 15 về sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 16-5-2013 về phát triển KH-CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế thành phố Hải Phòng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

- Tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền, cổ động trực quan, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, gia đình; các hoạt động ngoại giao văn hóa phong phú, đa dạng... chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị của đất nước và thành phố, nổi bật: Lễ hội kỷ niệm 60 năm Ngày Bác Hồ về thăm Làng cá, Ngày truyền thống ngành thủy sản Việt Nam và khai mạc Du lịch Cát Bà năm 2019; các hoạt động chào mừng Lễ hội Hoa Phượng Đỏ - Hải Phòng 2019 gắn với kỷ niệm 64 năm Ngày giải phóng Hải Phòng; Liên hoan âm nhạc ASEAN 2019. Thực hiện tu bổ, tôn tạo 31 di tích lịch sử cấp thành phố theo Nghị quyết 22/NQ-HĐND ngày 8-12-2017 của HĐND thành phố về Đề án công trợ kinh phí trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử, văn hóa xếp hạng cấp thành phố giai đoạn 2018 - 2025 và 5 di tích quốc gia thuộc Chương trình mục tiêu phát triển văn hóa năm 2019 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới và phát triển văn hóa nông thôn tiếp tục được triển khai bài bản, sâu rộng, đạt hiệu quả.

- Thể dục thể thao quần chúng tiếp tục phát triển sâu rộng, đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”(8). Đăng cai tổ chức thành công 5 giải thể thao toàn quốc năm 2019 tại Hải Phòng(9). Tính đến ngày 15-10-2019, thể thao Hải Phòng tham gia thi đấu 112 giải thể thao quốc gia, quốc tế, giành 442 huy chương các loại, trong đó 117 huy chương vàng, 120 huy chương bạc, 205 huy chương đồng. Hoàn thành Đề án phát triển bóng đá Hải Phòng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

- Thực hiện tốt công tác thông tin tuyên truyền các sự kiện chính trị, kinh tế - xã hội quan trọng của đất nước và thành phố; duy trì thường xuyên giao ban và nâng cao chất lượng cung cấp thông tin cho các cơ quan báo chí, góp phần định hướng thông tin báo chí, hạn chế tình trạng thông tin sai, thiếu trung thực gây ảnh hưởng xấu đến dư luận xã hội. Tổ chức thành công Giải báo chí “Vì một Hải Phòng phát triển”; triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu “Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”. Công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực viễn thông tiếp tục được tăng cường, đẩy mạnh; các doanh nghiệp viễn thông thường xuyên đầu tư, nâng cấp hạ tầng, mở rộng mạng lưới, nâng cao chất lượng dịch vụ và chất lượng phục vụ bảo đảm nhu cầu thông tin liên lạc của người dân, doanh nghiệp cũng như công tác chỉ đạo điều hành của các cấp lãnh đạo.

8. Cải cách hành chính, tư pháp, phòng chống tham nhũng, lãng phí, giải quyết khiếu nại, tố cáo

- Chỉ số cải cách hành chính năm 2018 của thành phố đạt 83,68 điểm, đứng thứ 5/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đẩy mạnh việc sắp xếp các Ban Quản lý dự án trên địa bàn thành phố và các Ban Quản lý dự án trực thuộc UBND các quận, huyện. Hoàn thành Đề án sắp xếp đơn vị hành chính xã, phường trên địa bàn thành phố giai đoạn 2019-2021 và Đề án sắp xếp, sáp nhập thôn, tổ dân phố. Xây dựng Kế hoạch phát động phong trào thi đua “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở” giai đoạn 2019-2025 trên địa bàn thành phố; Kế hoạch tổ chức Hội nghị điển hình tiên tiến các cấp tiến tới Đại hội Thi đua yêu nước thành phố lần thứ 9 (2020-2025). Nhận cờ thi đua của Chính phủ tặng cho thành phố Hải Phòng - đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua năm 2018, cụm thi đua 5 thành phố trực thuộc Trung ương.

- Hệ thống “một cửa” điện tử và dịch vụ công trực tuyến được vận hành hiệu quả, đến nay 100% UBND các quận, huyện, xã, phường, thị trấn đã vận hành hệ thống; tỷ lệ hồ sơ trực tuyến mức độ 3, 4 tăng cao so với cùng kỳ năm 2018. Thực hiện kết nối trục liên thông của thành phố (LGSP) với hệ thống thông tin của Tổng công ty Bưu điện Việt Nam (VNPost) thông qua trục liên thông quốc gia (Hệ thống NGSP). Ban hành Kế hoạch chuyển đổi và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 vào hoạt động của các cơ quan hành chính xã, phường, thị trấn trên địa bàn thành phố.

- Ban hành 25 văn bản quy phạm pháp luật (QPPL); tham gia ý kiến vào 249 dự thảo văn bản. Quyết định công bố danh mục 85 văn bản QPPL hết hiệu lực năm 2018; Quyết định công bố kết quả hệ thống hóa văn bản QPPL trên địa bàn thành phố kỳ 2014-2018 đối với 882 văn bản; Quyết định bãi bỏ các văn bản QPPL. Thực hiện rà soát 67 văn bản QPPL do thành phố ban hành có liên quan đến các luật được Quốc hội thông qua và có hiệu lực năm 2019. Tuyên truyền, phổ biến các luật, nghị quyết được thông qua tại kỳ họp thứ 6, thứ 7 Quốc hội khóa 14.

- Tiến hành 96 cuộc thanh tra hành chính, 2.092 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành đối với 6.416 cá nhân, tổ chức. Qua thanh tra, kiểm tra phát hiện 2.389 đơn vị, cá nhân sai phạm về kinh tế với số tiền 42,983 tỷ đồng, kiến nghị thu hồi nộp ngân sách nhà nước 19,98 tỷ đồng. Tiếp tục triển khai và nâng cấp phần mềm “Hệ thống quản lý kế hoạch thanh tra, kiểm tra trên địa bàn thành phố”. Tiếp 6.601 lượt với 11.729 người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị. Nhận và xử lý 7.860 đơn thư các loại; số vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền là 400 vụ việc, đã giải quyết 345 vụ việc, đạt tỷ lệ 86,25%. Ban hành Kế hoạch và thành lập Tổ công tác tổ chức thực hiện công tác kiểm tra rà soát giải quyết khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài trên địa bàn thành phố.

- Ban hành Kế hoạch về phòng, chống tham nhũng trên địa bàn thành phố năm 2019; triển khai việc ký cam kết phòng, chống phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực năm 2019 đối với từng cán bộ, công chức, viên chức. Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị công khai, minh bạch trong hoạt động, công khai kết luận thanh tra, quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo theo quy định, xây dựng, thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn, rà soát văn bản quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn để phòng ngừa tham nhũng, lãng phí. Thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng như: chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức; sửa đổi, bổ sung, chuẩn hóa các thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành thanh tra và các ngành khác theo quy định. Thực hiện việc kê khai minh bạch tài sản năm 2018 tại 84 đơn vị với số người kê khai là 12.682 người; tổ chức 165 lớp tuyên truyền, quán triệt pháp luật về phòng chống tham nhũng cho 12.151 lượt người tham gia.

9. Công tác đối ngoại và quốc phòng - an ninh

Các hoạt động đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân được triển khai tích cực, đa dạng và toàn diện trên các lĩnh vực. Tiếp tục mở rộng liên kết kinh tế với các địa phương, đối tác khác trong khu vực EU, ASEAN, Đông Bắc Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Tổ chức đón tiếp chu đáo, trọng thị và hiệu quả các đoàn khách quốc tế đến thăm, tham dự các sự kiện văn hóa, chính trị, tìm hiểu cơ hội đầu tư, kinh doanh tại thành phố, nổi bật là Đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên tới thăm và làm việc tại Hải Phòng. Tổ chức thành công các hoạt động kỷ niệm 5 năm kết nghĩa Hải Phòng -Kitakyushu. Hoàn thiện hồ sơ đăng ký vịnh Lan Hạ là thành viên của Tổ chức Câu lạc bộ các vịnh đẹp nhất thế giới. Tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa nhằm tăng cường thu hút kiều bào hướng về thành phố, giá trị kiều hối ước đạt 450 - 500 triệu USD, tăng 1,6 - 1,8 lần so với cùng kỳ; cam kết viện trợ phi chính phủ nước ngoài ước đạt 7,5 triệu USD. Công tác thông tin đối ngoại, truyền thông, giới thiệu hình ảnh thành phố được đa dạng hóa.

Bảo vệ tuyệt đối an toàn hoạt động của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các đoàn khách quốc tế đến thăm và làm việc tại Hải Phòng. Chủ động xây dựng và triển khai sớm các kế hoạch, phương án phòng chống biểu tình trái pháp luật, gây rối, bạo loạn; thường xuyên rà soát nắm tình hình trên không gian mạng và các phương tiện truyền thông. Thực hiện có hiệu quả cao các đợt cao điểm tấn công trấn áp các loại tội phạm(10) ; đẩy mạnh công tác tuần tra, kiểm soát, chốt điểm tại các địa bàn phức tạp về an ninh trật tự. Trật tự an toàn giao thông được bảo đảm, không để xảy ra đua xe trái phép, ùn tắc giao thông kéo dài, tai nạn giao thông được kiềm chế(11). Thực hiện dự án “Nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cho lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy”.

Tình hình chủ quyền vùng biển đảo thành phố cơ bản ổn định; thực hiện tốt công tác kiểm tra, kiểm soát người, phương tiện trên địa bàn khu vực biên giới biển. Tích cực, chủ động triển khai có hiệu quả cao công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, phòng, chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn.

Duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu. Tổ chức sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 689-NQ/QUTW ngày 10-10-2014 của Quân ủy Trung ương về phòng, chống khắc phục hậu quả thiên tai - tìm kiếm cứu nạn đến năm 2020; sơ kết xây dựng nền quốc phòng toàn dân giai đoạn 2009 - 2019. Chỉ đạo quận Hải An, các huyện: Thủy Nguyên, An Dương, Cát Hải diễn tập khu vực phòng thủ; Sở Giáo dục - Đào tạo, Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn chuẩn bị diễn tập bảo đảm khu vực phòng thủ đạt chất lượng tốt, an toàn; các quận, huyện hoàn thành diễn tập chiến đấu phòng thủ cho 55/55 xã, phường, thị trấn; diễn tập phòng, chống thiên tai - tìm kiếm cứu nạn năm 2019 sát điều kiện thực tế của địa phương. Hoàn thành 100% chỉ tiêu tuyển quân năm 2019. Thường xuyên kiểm tra, quản lý chặt chẽ đất, công trình quốc phòng, khu quân sự. Làm tốt công tác tham vấn về lĩnh vực quốc phòng đối với các dự án phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh. Tiến hành xây dựng các hạng mục công trình phòng thủ tại đảo Bạch Long Vỹ và Dự án cải tạo, nâng cấp căn cứ hậu phương số 1 của thành phố đúng tiến độ, bảo đảm an toàn.

III. KẾT QUẢ THỰC HIÊN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ - XÃ HỘI CHỦ YẾU

Đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu năm 2019 như sau:

Như vậy, có 7/18 chỉ tiêu hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra, 10/18 chỉ tiêu hoàn thành mục tiêu kế hoạch, 1/18 chỉ tiêu không hoàn thành mục tiêu kế hoạch (chỉ tiêu tốc độ tăng giá trị sản xuất nông lâm thủy sản, do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi).

IV. TỒN TẠI, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN


- Có 1/18 chỉ tiêu không hoàn thành mục tiêu kế hoạch (chỉ tiêu tốc độ tăng giá trị sản xuất nông lâm thủy sản do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi).

- Thu ngân sách nhà nước tuy vượt dự toán được giao nhưng có tới 9/18 khoản thu, sắc thuế không đạt dự toán(12).

- Việc triển khai thực hiện Nghị quyết của HĐND thành phố về cơ chế, chính sách hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở đối với hộ gia đình người có công với cách mạng có khó khăn về nhà ở còn chậm trong các tháng đầu năm, chưa đồng đều và chưa phát huy hết ý nghĩa, hiệu quả xã hội.

- Cải cách thủ tục hành chính chưa đáp ứng yêu cầu cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2018 của thành phố xếp vị trí thứ 16/63 tỉnh, thành, giảm 7 bậc so với năm 2017. Công tác giải phóng mặt bằng ở một số dự án còn chậm, ảnh hưởng đến tiến độ thi công một số dự án trọng điểm của thành phố và các nhà đầu tư.

- Công tác quản lý, chỉnh trang, xây dựng đô thị văn minh tại một số trục đường chính còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến trật tự hè đường, mỹ quan đô thị thành phố.

- Còn tình trạng doanh nghiệp nợ thuế, nợ bảo hiểm xã hội, nợ lương công nhân dẫn đến khiếu kiện đông người, phức tạp; tình hình khiếu nại, tố cáo về thu hồi đất, đền bù giải phóng mặt bằng vẫn còn diễn ra.

Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế: Những hạn chế, yếu kém nêu trên có những nguyên nhân khách quan do khó khăn của nền kinh tế thế giới, thời tiết, dịch bệnh diễn biến phức tạp, khối lượng công việc lớn… nhưng chủ yếu là những nguyên nhân chủ quan. Công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ của một số sở, ngành thành phố chưa được kịp thời. Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp chính quyền địa phương chưa được chặt chẽ, chưa giải quyết kịp thời những phát sinh, vướng mắc trong công tác quản lý, xuất hiện việc đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, dẫn đến thời gian giải quyết một số công việc kéo dài. Việc thực hiện kỷ cương, kỷ luật trong thực hiện nhiệm vụ của một số cán bộ, công chức chưa tốt.

Phần thứ hai

MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2020

Kinh tế thế giới năm 2020 được dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Trong nước, kinh tế vĩ mô được duy trì ổn định, lạm phát được kiểm soát, những nỗ lực của Chính phủ trong tháo gỡ vướng mắc, khó khăn của doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng được thực hiện triệt để và quyết liệt trong năm 2019 sẽ phát huy hiệu quả trong năm 2020. Kinh tế trong nước đứng trước các cơ hội mới, trong đó có lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đem lại, trong đó có Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVIPA) sẽ tạo ra sức hút mới cho đầu tư trực tiếp nước ngoài, không chỉ ở các khoản đầu tư mới, mà ở cả việc mở rộng các dự án sẵn có, giúp các doanh nghiệp có thêm năng lực sản xuất mới; tuy nhiên kinh tế - xã hội cả nước vẫn đứng trước nhiều khó khăn và thách thức đan xen, bị tác động nhiều chiều từ bên ngoài.

Đối với thành phố, những kết quả đột phá trong phát triển kinh tế năm 2019, môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng cải thiện, các dự án xây dựng hạ tầng, đầu tư sản xuất và thương mại, du lịch lớn được đưa vào hoạt động và tập trung đẩy nhanh tiến độ là những yếu tố thuận lợi thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, cơ sở hạ tầng còn hạn chế so với yêu cầu phát triển. Thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp, khó lường. Nhu cầu đầu tư phát triển, nhất là kết cấu hạ tầng, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng an ninh, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu rất lớn nhưng nguồn lực còn hạn hẹp.

Năm 2020 có ý nghĩa rất quan trọng, là năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố 5 năm 2016 - 2020, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ 15, cũng là năm tiến hành đại hội Đảng các cấp, nhất là Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ 16, tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 13 của Đảng. Định hướng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố năm 2020 được xây dựng nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24-1-2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Quyết định số 821/QĐ-TTg ngày 6-7-2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Nghị quyết Đảng bộ thành phố lần thứ 15.

I. CHỦ ĐỀ, MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU CHỦ YẾU CỦA KẾ HOẠCH NĂM 2020.

1. Mục tiêu tổng quát

Duy trì đà tăng trưởng gắn với thực hiện hiệu quả, thực chất hơn các đột phá chiến lược, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh kinh tế thành phố. Tiếp tục cải thiện tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi cho đầu tư, sản xuất kinh doanh; huy động mọi nguồn lực, tăng cường thu ngân sách, quyết liệt thực hiện các công trình, dự án trọng điểm. Phát triển kinh tế đi đôi với phát triển giáo dục - đào tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao; thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, phát huy đổi mới, sáng tạo và khởi nghiệp; phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với cải cách công vụ, công chức, sắp xếp bộ máy, xây dựng chính quyền điện tử; cải cách tư pháp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo điều hành và thực thi pháp luật; quyết liệt phòng, chống tham nhũng, lãng phí; hướng tới xây dựng hình ảnh thành phố hấp dẫn, năng động. Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Mở rộng liên kết vùng, nâng cao hiệu quả đối ngoại và hội nhập quốc tế.

2. Chủ đề năm 2020 của thành phố

Để tiếp nối các công việc đang triển khai thực hiện, nhằm tạo sự đột phá trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút đầu tư, tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, ngân sách, đề nghị giữ nguyên như chủ đề đã thực hiện trong 4 năm vừa qua để tập trung chỉ đạo, thực hiện trong năm 2020, đó là: “Tăng cường kỷ cương thu, chi ngân sách - Đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh”.

3. Các chỉ tiêu kế hoạch chủ yếu năm 2020

a) Các chỉ tiêu kinh tế:

(1) Tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh 2010) tăng 16,5% so với năm 2019, trong đó: nhóm nông, lâm, thủy sản tăng 1,91%; nhóm công nghiệp, xây dựng tăng 24,12%; nhóm dịch vụ tăng 9,89%;

(2) GRDP bình quân đầu người (theo giá hiện hành) đạt 5.637 USD;

(3) Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 23%;

(4) Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản tăng 1,93%, trong đó giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 0,27%; giá trị sản xuất thủy sản tăng 5,51%;

(5) Tổng vốn đầu tư toàn xã hội huy động đạt 185.250 tỷ đồng;

(6) Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 98.250 tỷ đồng, bao gồm: thu ngân sách nhà nước địa phương 35.250 tỷ đồng, riêng thu nội địa 33.000 tỷ đồng; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu 63.000 tỷ đồng;

(7) Sản lượng hàng hoá thông qua cảng đạt 153 triệu tấn;

(8) Kim ngạch xuất khẩu tăng 20%;

(9) Thu hút khách du lịch đạt 10,64 triệu lượt khách;

(10) Xây dựng nông thôn mới: phấn đấu 100% số huyện (7 huyện) đạt chuẩn nông thôn mới; xây dựng 7 mô hình thí điểm xã nông thôn mới kiểu mẫu.

(11) Thu hút 1,6 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

b) Các chỉ tiêu xã hội:

(12) Tỷ lệ thất nghiệp thành thị ở mức 3,86%; tỷ lệ sử dụng thời gian làm việc của lao động nông thôn là 85%;

(13) Giải quyết việc làm cho khoảng 55.400 lượt người lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 85%, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 3 tháng trở lên có văn bằng chứng chỉ là 35%;

(14) Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 90,7%;

(15) Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều) giảm 0,5%.

c) Các chỉ tiêu môi trường:

16) Tỷ lệ chất thải rắn được thu gom và xử lý hợp vệ sinh: ở đô thị đạt 100%; nông thôn đạt 90%;

(17) Tỷ lệ cơ sở khám, chữa bệnh xử lý chất thải y tế đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 100%;

(18) Tỷ lệ khu, cụm công nghiệp được thành lập theo quy định đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 100%.

II. NHIÊM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

Nhằm thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 và các năm tiếp theo, các cấp, ngành, địa phương, đơn vị tập trung cao công tác chỉ đạo, điều hành, nghiêm túc quán triệt, thực hiện các văn bản chỉ đạo của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố về triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2020, trong đó tập trung vào các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

1. Về phát triển kinh tế

1.1. Duy trì đà tăng trưởng gắn với thực hiện điều chỉnh cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh kinh tế thành phố

- Tiếp tục thực hiện Chương trình hành động số 76-CTr/TU ngày 8-7-2019 của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Triển khai lập Quy hoạch thành phố theo quy định của Luật Quy hoạch; trước khi quy hoạch thành phố theo quy định của Luật Quy hoạch được phê duyệt, tiếp tục thực hiện hiệu quả Quyết định số 821/QĐ-TTg ngày 6-7-2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

- Thực hiện quyết liệt, có hiệu quả Đề án điều chỉnh cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh nền kinh tế thành phố và các đề án tái cơ cấu ngành, lĩnh vực đã được phê duyệt. Từng bước chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, ứng dụng công nghệ hiện đại, dựa vào đầu tư, xuất khẩu và thị trường trong nước. Thúc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy chuyển dịch nội ngành theo hướng tăng nhanh hơn tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản. Hình thành các ngành nghề, sản phẩm mới, giá trị gia tăng cao; nâng cao sự đóng góp của khoa học và công nghệ vào các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao, có lợi thế cạnh tranh để tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: Xây dựng Kế hoạch phát triển vùng sản xuất hàng hóa tập trung cho nhà máy chế biến rau, quả Haphofood; Kế hoạch chuyển đổi đất lúa sang sản xuất các sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao.

Tiếp tục hỗ trợ tích tụ ruộng đất, dồn điền đổi thửa tạo cánh đồng lớn, sản xuất hàng hóa tập trung; hoàn thiện hạ tầng sản xuất, ứng dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, cơ giới hóa vào phát triển sản xuất. Thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao, sản xuất theo chuỗi. Chủ động phòng, chống thiên tai, kiểm soát dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi.

Xây dựng, nâng cấp các cảng và các khu neo đậu tàu tránh, trú bão cho tàu cá phía Tây Nam đảo Bạch Long Vỹ; xây dựng Trung tâm nghề cá lớn tại Hải Phòng gắn với ngư trường vịnh Bắc bộ tại xã Lập Lễ, huyện Thủy Nguyên. Đẩy mạnh khai thác thủy sản xa bờ, khai thác có hiệu quả các ngư trường trọng điểm, đa dạng hóa các sản phẩm chế biến. Xây dựng kế hoạch để triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trong năm 2020.

Khu vực công nghiệp và xây dựng: Triển khai Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, Chương trình hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp, Chương trình khuyến công địa phương, Đề án khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ. Chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai dự án, đặc biệt là các dự án lớn như: VinFast, LG Electronics, LG Display, LG Innotek,...

Phát triển hạ tầng kỹ thuật Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải và các khu, cụm công nghiệp để thu hút đầu tư. Hoàn thành các thủ tục để thành lập: KCN Cầu Cựu tại huyện An Lão, KCN Tiên Thanh tại huyện Tiên Lãng, KCN Deep C4 tại huyện Kiến Thụy, KCN và phi thuế quan Xuân Cầu tại huyện Cát Hải, KCN Sao Mai. Triển khai thí điểm chuyển đổi 1 KCN thành KCN sinh thái.

Nghiên cứu, triển khai các giải pháp nâng cao năng lực doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, giảm dần tỷ lệ gia công, lắp ráp; khuyến khích, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia các chương trình đổi mới công nghệ; thực hiện các giải pháp mở rộng thị trường và tăng cường mối liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh và sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.

Nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, giải pháp để thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội tại khu vực đô thị, nhà ở cho công nhân lao động tại các khu, cụm công nghiệp; cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển nhà cho thuê, nhà ở cho người có thu nhập thấp; kiểm soát chặt chẽ việc quy hoạch và khai thác, sử dụng hiệu quả quỹ đất đô thị dành để phát triển nhà ở xã hội.

Xây dựng kế hoạch phát triển nhà ở năm 2020 và 5 năm 2021 - 2025 theo Chương trình phát triển nhà ở thành phố đến năm 2025, 2030.

Khu vực dịch vụ: Triển khai Chương trình hành động số 72-CTr/TU ngày 27-3-2019 của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Nghị quyết số 36- NQ/TW ngày 22-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 12 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; thực hiện Quy hoạch, Kế hoạch phát triển hệ thống dịch vụ logistics, xây dựng các trung tâm logistics… Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư phát triển du lịch, đặc biệt là các dự án của các tập đoàn lớn như Sun Group, Vingroup, FLC, Him Lam...; các dự án bảo vệ môi trường khu du lịch tại Cát Bà, Đồ Sơn. Phát triển du lịch gắn với các điểm văn hóa tâm linh, di tích lịch sử, kiến trúc, truyền thống cách mạng. Xây dựng, triển khai ứng dụng du lịch thông minh. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh du lịch thành phố. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi thu hút nhà đầu tư có kinh nghiệm, tiềm lực tài chính để đầu tư các bến còn lại của Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng với trang thiết bị hiện đại, đồng bộ nhằm nâng cao năng lực xếp dỡ, vận chuyển hàng hóa. Thực hiện cơ cấu lại ngành vận tải, chú trọng kết nối các phương thức vận tải, ứng dụng khoa học công nghệ vào quản lý, điều hành, giảm chi phí logistics,...

Phát triển thị trường trong nước gắn với bảo đảm cân đối cung cầu, nhất là đối với các mặt hàng thiết yếu; tăng cường kiểm soát chất lượng và giá cả các mặt hàng, sản phẩm thiết yếu phục vụ nhu cầu đời sống, sức khỏe nhân dân. Tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại nội địa trên địa bàn: Hội chợ triển lãm thương mại; tổ chức các chuyến đưa hàng Việt về nông thôn; Chương trình “Tháng khuyến mại - Hải Phòng 2020”. Chú trọng phát triển bền vững nguồn hàng xuất khẩu; vận động và hướng dẫn các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố tham gia hội chợ trong và ngoài nước. Tận dụng tối đa các lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đem lại, trong đó có Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVIPA).

1.2. Tiếp tục cải thiện tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi cho đầu tư, sản xuất kinh doanh; huy động mọi nguồn lực, tăng cường thu ngân sách, quyết liệt thực hiện các công trình, dự án trọng điểm.

- Tập trung rà soát, triển khai các giải pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, nhất là về thủ tục hành chính, quy định pháp lý trong các lĩnh vực quy hoạch, đầu tư, xây dựng, đất đai,...; đề xuất sửa đổi các quy định pháp luật, các trình tự, thủ tục còn chưa rõ ràng, chồng chéo trong phân cấp trách nhiệm, quyền hạn và cơ chế phối hợp, bảo đảm đồng bộ trong hệ thống pháp luật và khả thi, công khai, minh bạch.

- Thực hiện quyết liệt các giải pháp nâng cao chỉ số PCI của thành phố: nâng cao chỉ số thành phần có tăng điểm năm 2018; cải thiện các chỉ số giảm điểm, đặc biệt là các chỉ số giảm điểm mạnh hoặc liên tục như chỉ số gia nhập thị trường, chỉ số chi phí không chính thức. Thực hiện đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành và địa phương (DDCI) để đánh giá tính sáng tạo và hiệu quả điều hành của các sở, ban, ngành và UBND các quận, huyện năm 2019. Thực hiện tốt nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính, triển khai có hiệu quả cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” trong giải quyết thủ tục hành chính, kết nối cổng thông tin “một cửa” quốc gia; tập trung nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 cho doanh nghiệp, nhất là những dịch vụ có số lượng hồ sơ phát sinh lớn.

- Triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16-5-2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, trong đó tập trung hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp; Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 1-1-2019 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021.

Triển khai tích cực, có hiệu quả Chương trình hành động cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp. Tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể; thúc đẩy hình thành các tập đoàn kinh tế quy mô lớn, tiềm lực mạnh, hiệu quả và sức cạnh tranh cao. Đẩy nhanh tiến độ cơ cấu lại, cổ phần hóa, thoái vốn trong công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước; thực hiện chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần.

Triển khai đồng bộ các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhằm tạo chuyển biến căn bản về nhận thức pháp lý, ý thức pháp luật và thói quen tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp. Tạo lập các điều kiện cần thiết để phục vụ thực thi pháp luật của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, phòng, chống rủi ro pháp lý, tăng cường năng lực cạnh tranh.

- Tập trung chống thất thu, chuyển giá, trốn lậu thuế, giảm tỷ lệ nợ đọng thuế; có chính sách nuôi dưỡng nguồn thu để phát triển. Rà soát lại các khoản phí, lệ phí để triển khai thực hiện theo Luật Phí, lệ phí, đặc biệt là các khoản phí, lệ phí thuộc thẩm quyền của HĐND thành phố ban hành. Đẩy mạnh đấu giá quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ký hợp đồng thuê đất, đôn đốc thực hiện kịp thời các nghĩa vụ tài chính phát sinh. Hoàn thành và đưa vào sử dụng “Hệ thống thu phí tự động kết nối với cổng thanh toán điện tử hải quan 24/7”.

Điều hành chi ngân sách tiết kiệm, hiệu quả, theo dự toán được giao. Tiếp tục thực hiện cơ cấu lại công tác chi ngân sách một cách hợp lý theo hướng tăng dần tỷ trọng chi cho đầu tư phát triển trong tổng chi ngân sách, thực hành tiết kiệm, chống thất thoát, lãng phí ngân sách, tiếp tục quan tâm hơn nữa đến công tác an sinh xã hội và bảo đảm các chế độ chính sách với người có công, gia đình chính sách. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện cơ chế giá thị trường đối với giá dịch vụ sự nghiệp công quan trọng như y tế, giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp theo lộ trình tính đúng, tính đủ các yếu tố chi phí.

- Huy động, thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế. Đẩy mạnh việc đầu tư theo các hình thức đối tác công - tư (PPP), đặc biệt là các dự án đã được Thành ủy, HĐND thành phố thông qua. Rà soát, sửa đổi, ban hành các quy định về quản lý đầu tư xây dựng theo hướng thông thoáng, đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền, giảm bớt các thủ tục hành chính đi đôi với tăng cường thanh tra, kiểm tra về đầu tư. Nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung các chính sách tạo thuận lợi nhất để đẩy nhanh xã hội hóa đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt đối với hạ tầng thương mại; hạ tầng giáo dục, đào tạo; hạ tầng y tế; hạ tầng văn hóa, thể dục, thể thao; hạ tầng thông tin và truyền thông;...

Tăng cường quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước; tập trung bố trí vốn đầu tư công năm 2020 để sớm hoàn thành các dự án đã được bố trí Kế hoạch vốn trong giai đoạn 2016-2019 và thực hiện Quy chế phân cấp quản lý vốn đầu tư công. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng một số công trình trọng điểm nhất là hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại, kết nối với các địa phương trong vùng Bắc bộ và hai hành lang, một vành đai kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc, như: Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường bộ ven biển đoạn đi qua địa phận thành phố Hải Phòng và 9 km đi qua địa phận tỉnh Thái Bình; dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 37, đoạn qua địa phận thành phố Hải Phòng; Dự án đầu tư xây dựng cầu Tân Vũ - Lạch Huyện 2 và đường dẫn hai đầu cầu Tân Vũ - Lạch Huyện 2; xây dựng cầu Dinh, cầu Quang Thanh, cầu sông Hóa… Hoàn thành dự án đầu tư xây dựng nút giao thôngNamcầu Bính. Làm tốt công tác bố trí tái định cư phục vụ giải phóng mặt bằng; công khai minh bạch các quy hoạch, dự án, các cơ chế, chính sách về đền bù, giải phóng mặt bằng để nhân dân biết, đồng tình ủng hộ.

2. Về phát triển xã hội

2.1. Về thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo đảm an sinh xã hội:

Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi, hộ nghèo; Nghị quyết số 32/2018/NQ-HĐND ngày 10-12-2018 của HĐND thành phố về cơ chế, chính sách hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở đối với hộ gia đình người có công với cách mạng có khó khăn về nhà ở trên địa bàn thành phố. Triển khai đề án hỗ trợ gạch, xi măng cho các hộ nghèo xây dựng, sửa chữa nhà ở sau khi được Thành ủy, HĐND thành phố thông qua.

Tiếp tục thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nghị quyết của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, thành phố về giảm nghèo bền vững đến năm 2020. Hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo tiếp cận các nguồn lực thị trường tạo việc làm, phát triển sản xuất và dịch vụ; đồng thời hỗ trợ người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, bảo hiểm, giáo dục - đào tạo, nhà ở… để tăng thu nhập cho hộ nghèo, người nghèo thoát nghèo nhanh và bền vững. Xây dựng Đề án hỗ trợ giảm nghèo bền vững trên địa bàn thành phố giai đoạn 2019 - 2025.

Phát triển hệ thống an sinh xã hội hiệu quả, bền vững, không bao cấp tràn lan. Tổ chức thực hiện hiệu quả các chính sách trợ giúp thường xuyên và đột xuất đối với các đối tượng yếu thế trong xã hội; quan tâm chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em, thanh thiếu niên, phụ nữ; làm tốt công tác bình đẳng giới, phòng, chống tệ nạn xã hội. Xây dựng Đề án mở rộng đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng; nâng mức hỗ trợ mai táng phí; nâng mức chuẩn trợ cấp xã hội hàng tháng giai đoạn 2019 - 2025. Tích cực triển khai Chương trình hành động số 59/CTr-TU ngày 30-7-2018 của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Nghị quyết số 28/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.

Giải quyết tốt các vấn đề xã hội còn bức xúc. Kiểm soát chặt chẽ, phòng ngừa, ngăn chặn các tệ nạn xã hội, đấu tranh phòng ngừa, kiềm chế và đẩy lùi tệ nạn ma túy, mại dâm, phòng, chống mua bán người, phòng, chống tai nạn, xâm hại trẻ em. Bảo đảm vệ sinh trong khuôn viên bệnh viện, trường, lớp học, khu du lịch và các không gian công cộng.

2.2. Về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân:

Chủ động phòng, chống dịch bệnh, tăng cường các hoạt động nâng cao sức khoẻ, đẩy mạnh hoạt động cung ứng dịch vụ tầm soát, phát hiện sớm bệnh tật. Nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, giảm quá tải bệnh viện, tăng sự hài lòng của người dân. Tiếp tục duy trì mức sinh thay thế, đẩy mạnh các giải pháp để bảo đảm cân bằng giới tính khi sinh, nâng cao chất lượng dân số. Tăng cường kiểm tra, thanh tra hoạt động kinh doanh dược phẩm và thực phẩm chức năng; quản lý phòng khám tư nhân; phòng chống thuốc giả, xử lý nghiêm vi phạm. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt trong lĩnh vực khám chữa bệnh, các bệnh viện triển khai hồ sơ bệnh án điện tử theo lộ trình; tiếp tục triển khai kết nối dữ liệu đối với các quầy thuốc, phấn đấu đạt tỷ lệ 100%.

Triển khai mô hình 12 Trạm Y tế điểm của 4 huyện (Thủy Nguyên, Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, An Dương). Hoàn thành và đưa vào hoạt động Bệnh viện đa khoa quốc tế Vĩnh Bảo, Bệnh viện quốc tế Sản Nhi. Thành lập Trung tâm Phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh thành phố; xây dựng Đề án nâng cấp Trung tâm Da liễu thành Bệnh viện Da liễu; thực hiện việc tiếp nhận y tế học đường về Trạm Y tế. Hoàn thành việc cải tạo, nâng cấp hệ thống xử lý chất thải y tế, bảo đảm hoàn thành chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội 15 Đảng bộ thành phố “Tỷ lệ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh xử lý chất thải y tế đạt tiêu chuẩn đạt 100%”. Xây dựng cơ chế, chính sách đào tạo, đãi ngộ, thu hút nhân lực chất lượng cao ngành y tế trình HĐND thành phố thông qua.

2.3. Về phát triển giáo dục - đào tạo:

Tiếp tục triển khai Chương trình hành động của thành phố về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Nâng cao chất lượng giáo dục và chất lượng phổ cập giáo dục các cấp, tăng cường công tác hướng nghiệp cho học sinh, dạy nghề cho người lao động. Duy trì bền vững kết quả phổ cập bậc trung học và nghề. Tăng cường an ninh, an toàn trong trường, lớp học; chú trọng xây dựng văn hóa học đường, trang bị kỹ năng sống cho học sinh; xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, dân chủ, kỷ cương.

Triển khai đề án miễn học phí cho các bậc học từ mầm non đến THPT sau khi được Thành ủy, HĐND thành phố thông qua. Tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo, chú trọng nâng cao chất lượng đầu ra; tăng cường việc hợp tác giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp, gắn đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động; xây dựng môi trường thuận lợi hỗ trợ hoạt động dạy và học ngoại ngữ. Tham gia Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc lần thứ 10 năm 2020 đạt thành tích cao.

Thu hút đầu tư, hợp tác quốc tế trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Có chính sách phù hợp, hiệu quả để phát triển nguồn nhân lực, trọng dụng đội ngũ nhân lực chất lượng cao, thu hút, sử dụng hiệu quả đội ngũ các nhà khoa học, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài.

Tiếp tục thực hiện hiệu quả các cơ chế, chính sách hỗ trợ học nghề, phân luồng học sinh vào học giáo dục nghề nghiệp; gắn kết đào tạo với doanh nghiệp, khuyến khích hợp tác và thành lập mới các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Rà soát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các trường cao đẳng, trường trung cấp công lập trực thuộc thành phố để thực hiện sắp xếp, kiện toàn các đơn vị; đẩy mạnh giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập.

2.4. Về phát triển khoa học công nghệ:

Đổi mới đồng bộ cơ chế, phương thức quản lý tổ chức, hoạt động KH-CN đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Xây dựng và thực thi các chính sách thúc đẩy hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp, đưa nhanh kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vào sản xuất, kinh doanh. Hoàn thành việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp KH-CN công lập. Tăng cường huy động nguồn lực xã hội cho KH-CN, nhất là từ doanh nghiệp, phát huy quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp.

Thực hiện hiệu quả Kế hoạch phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thành phố; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, thành lập các trung tâm ươm tạo, câu lạc bộ khởi nghiệp, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo của thành phố. Triển khai hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo. Đẩy mạnh việc hình thành và phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ; củng cố, tăng cường năng lực cho các tổ chức khoa học và công nghệ biển.

2.5. Phát triển văn hóa, thể dục thể thao:

Tổ chức hiệu quả các hoạt động văn hóa cơ sở, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa; các hoạt động tuyên truyền cổ động trực quan, văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao phục vụ các nhiệm vụ chính trị, kỷ niệm

các ngày lễ lớn trong năm 2020 và Lễ hội Hoa Phượng Đỏ - Hải Phòng năm 2020. Tiếp tục triển khai Đề án công trợ kinh phí trùng tu, tôn tạo di tích lịch sửa văn hóa xếp hạng cấp thành phố giai đoạn 2018 - 2025, phân kỳ 2020; Chương trình mục tiêu phát triển văn hóa năm 2020 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với các dự án bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của thành phố. Xây dựng Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích quốc gia đặc biệt danh lam thắng cảnh quần đảo Cát Bà.

Ban hành quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố. Xây dựng công trình kỷ niệm nơi diễn ra lễ thành lập hai thủy đội Sông Lô - Bạch Đằng.

Thực hiện Đề án sân khấu truyền hình trên sóng truyền hình Hải Phòng. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh" và phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa"; từng bước cải thiện, nâng cao giá trị đạo đức xã hội. Đa dạng hóa các hình thức truyền thông, giáo dục xây dựng và gìn giữ văn hóa trong nhân dân.

Đẩy mạnh phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng trên địa bàn thành phố gắn với Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, góp phần nâng cao thể lực, tầm vóc cho người dân, đặc biệt trong đối tượng thanh thiếu niên, học sinh, tạo nền tảng cho phát triển thể thao thành tích cao. Chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương cơ sở tổ chức Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân và các giải thể thao quần chúng, tập huấn nghiệp vụ thể dục thể thao trong năm 2020. Đăng cai tổ chức các giải thể thao toàn quốc tại thành phố. Xây dựng Đề án đoàn vận động viên thể thao tham gia Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ 9 năm 2022. Chuẩn bị tốt lực lượng tham gia các giải thể thao quốc gia và quốc tế đạt kết quả cao nhất.

2.6. Thông tin và truyền thông:

Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền và công tác phối hợp giữa UBND thành phố và các cơ quan của Đảng, HĐND thành phố, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố và các đoàn thể trên địa bàn thành phố nhằm tạo sự đồng thuận xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông theo hướng công khai, minh bạch, kịp thời và hiệu quả, khơi dậy tinh thần nỗ lực, phấn đấu, năng động, sáng tạo, mạnh dạn đổi mới, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào mọi mặt của đời sống xã hội nhằm tận dụng hiệu quả các cơ hội từ những thay đổi mạnh mẽ, nhanh chóng của khoa học và công nghệ và Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Thông tin đầy đủ, kịp thời về các vấn đề được dư luận, xã hội quan tâm. Tăng cường tiếp xúc, đối thoại, nhất là về cơ chế, chính sách gắn liền với cuộc sống của người dân và hoạt động của doanh nghiệp. Đấu tranh chống lại các thông tin xuyên tạc, sai sự thật, thông tin xấu, độc, lợi dụng mạng xã hội chống phá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

3. Về phát triển đô thị; quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu


Hoàn thành và triển khai Đồ án Điều chỉnh quy hoạch chung thành phố đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050. Thực hiện nghiêm Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị chung thành phố Hải Phòng. Tăng cường công tác quản lý quy hoạch, kiểm soát phát triển đô thị; công tác quản lý, xử lý dứt điểm các vi phạm về trật tự xây dựng tại đô thị, nông thôn, đặc biệt là các trường hợp còn tồn đọng. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐND ngày 11-7-2018 của HĐND thành phố về cơ chế hỗ trợ vật tư (xi măng, gạch lát vỉa hè, pha đèn chiếu sáng và cây xanh) để cải tạo, nâng cấp hè, đường ngõ xuống cấp trên địa bàn các quận; xây dựng lại các chung cư cũ, xuống cấp. Tăng cường quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị hướng tới sử dụng an toàn, xanh, sạch, đẹp, giảm thiểu ô nhiễm môi trường về nước thải, rác thải. Triển khai các dự án, công trình chống ngập đô thị trước mùa mưa bão và dự án nâng cấp, cải tạo, sửa chữa hệ thống điện chiếu sáng. Thực hiện ngầm hóa 100% các tuyến cáp ngoại vi viễn thông tại một số tuyến đường trung tâm trên địa bàn thành phố.

Hoàn thiện việc trình duyệt kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2021-2025 của thành phố, hướng dẫn lập và thẩm định kế hoạch sử dụng đất năm 2020 cấp huyện. Đẩy nhanh tiến độ xác định giá đất cụ thể để xác định giá khởi điểm thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất, tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền giao đất tái định cư và tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi đất theo quy định. Tập trung giải quyết, tháo gỡ vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ bồi thường, giải phóng mặt bằng bảo đảm tiến độ thực hiện các dự án; thực hiện công tác thu hồi đất đối với các trường hợp đã có quyết định thu hồi đất thuộc diện đã giao, cho thuê không đúng đối tượng, không đúng thẩm quyền, chậm đưa vào sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích gây lãng phí tài nguyên đất. Thực hiện bảo đảm Kế hoạch cấp giấy chứng nhận cho đơn vị hành chính sự nghiệp và cơ sở tôn giáo. Tổ chức thực hiện hiệu quả công tác kiểm kê đất đai, xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2019.

Tăng cường công tác hậu kiểm về môi trường, cấp Giấy xác nhận hoàn thành các công trình bảo vệ môi trường. Thực hiện tốt công tác quan trắc môi trường, kiểm soát hoạt động xả thải của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất; phân loại các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng để xây dựng lộ trình giảm thiểu ô nhiễm và kế hoạch di dời. Thực hiện nghiêm quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học. Khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo và sử dụng tiết kiệm năng lượng. Theo dõi chặt chẽ diễn biến khí tượng, thủy văn, đặc biệt là hạn hán, xâm nhập mặn; nâng cao chất lượng dự báo thời tiết, cảnh báo thiên tai. Chủ động phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; kịp thời, ứng phó, khắc phục hiệu quả các sự cố, thiên tai và cứu nạn, cứu hộ. Triển khai hiệu quả Đề án tổng thể quản lý tổng hợp vùng bờ thành phố Hải Phòng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050.

4. Về cải cách hành chính, cải cách tư pháp; công tác thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

- Duy trì và cải thiện xếp hạng các Chỉ số cải cách hành chính (Par Index), Chỉ số Hiệu quả quản trị hành chính công (PAPI), Chỉ số đo lường sự hài lòng hành chính (SIPAS). Rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy các sở, ngành, địa phương, thực hiện tinh giản biên chế theo đúng quy định. Tiếp tục thực hiện Đề án chuyển đổi cơ chế tài chính, sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập, các ban quản lý dự án trực thuộc UBND thành phố, sở, ngành, UBND quận, huyện. Triển khai Đề án sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã; Đề án sắp xếp, sáp nhập thôn, tổ dân phố. Thực hiện đầy đủ cơ chế, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trực tiếp trong quá trình sắp xếp lại tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế của thành phố. Cải cách chế độ công vụ, công chức; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc thực hiện nhiệm vụ được giao; xử lý nghiêm các hành vi tiêu cực, vi phạm pháp luật, sách nhiễu người dân và doanh nghiệp.

Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng đánh giá, thi tuyển công chức, viên chức gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức. Tiếp tục phát triển, hoàn thiện Hệ thống “một cửa” điện tử và dịch vụ công trực tuyến thành phố, tổ chức kết nối, tích hợp chia sẻ dữ liệu với Cổng Dịch vụ công quốc gia. Cập nhật Kiến trúc Chính quyền điện tử thành phố phù hợp với Khung Kiến trúc Chính phủ điện tử ViệtNam. Triển khai thí điểm phủ sóng thông tin di động công nghệ 5G. Thực hiện Luật An toàn thông tin mạng; bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trên địa bàn thành phố. Bổ sung trang thiết bị phục vụ công tác giám sát, cảnh báo an toàn, an ninh thông tin cho các hệ thống thông tin trong các cơ quan nhà nước.

- Thực hiện thống nhất, hiệu quả Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015; kết hợp chặt chẽ công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật với công tác theo dõi thi hành pháp luật.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật; tăng cường công tác kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật, kịp thời xử lý các văn bản lạc hậu, có nội dung không phù hợp với quy định của pháp luật và tình hình kinh tế - xã hội thành phố. Ban hành và triển khai Kế hoạch tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở và chuẩn tiếp cận pháp luật năm 2020; tuyên truyền, phổ biến các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua. Nâng cao chất lượng các dịch vụ công trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; tăng cường quản lý nhà nước kết hợp với phát huy vai trò tự quản của các hội nghề nghiệp trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, bảo đảm hoạt động của các tổ chức này nền nếp, theo đúng quy định của pháp luật; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong các lĩnh vực hành chính tư pháp. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, đăng ký và thống kê hộ tịch; thực hiện hiệu quả Đề án “Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc” của Bộ Tư pháp, cập nhật dữ liệu hộ tịch lịch sử vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.

- Xây dựng và triển khai thực hiện Kế hoạch thanh tra năm 2020 có trọng tâm, trọng điểm; tiếp tục chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp. Rà soát, giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo, bảo đảm đạt tỷ lệ từ 85% trở lên; tập trung giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp ngay từ cơ sở, tránh phát sinh thành “điểm nóng”, gây mất ổn định trật tự xã hội. Nghiêm túc tổ chức thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo đã có hiệu lực pháp luật. Triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, nhất là các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực và xử lý nghiêm các vi phạm. Kiên quyết xử lý, khắc phục tình trạng "tham nhũng vặt", nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả công tác (Tiếp theo trang A) thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các lĩnh vực và trên toàn thành phố, trước hết là trong các cơ quan hành chính nhà nước.

5. Về quốc phòng, an ninh và công tác đối ngoại, liên kết vùng

5.1. Về quốc phòng, an ninh:

Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của thành phố. Tiếp tục xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc gắn chặt với thế trận an ninh nhân dân; xây dựng các công trình phòng thủ theo quy hoạch thế trận quân sự khu vực phòng thủ thành phố đã được Bộ Quốc phòng phê duyệt. Chủ động đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, không để bị động, bất ngờ. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chú trọng vùng biển, đảo. Tăng cường công tác nắm tình hình liên quan đến bảo vệ chủ quyền biển đảo, an ninh trật tự trên địa bàn khu vực biên giới biển, cửa khẩu cảng; xây dựng thế trận Biên phòng toàn dân vững mạnh ở khu vực biên giới biển thành phố.

Bảo vệ vững chắc chính trị nội bộ, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng, an ninh mạng, các sự kiện chính trị, ngày lễ lớn, hội nghị, các mục tiêu trọng điểm về an ninh. Tổ chức các đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm theo chuyên đề; đấu tranh kịp thời, có hiệu quả với hoạt động của các loại tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, tội phạm và các vi phạm pháp luật có liên quan đến “tín dụng đen”, tội phạm kinh tế, tham nhũng, môi trường, tội phạm sử dụng công nghệ cao. Tăng cường công tác quản lý người nước ngoài, quản lý cư trú, quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Siết chặt quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự, nhất là các cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ, đòi nợ, karaoke, lưu trú. Kiềm chế, giảm thiểu tai nạn, không để xảy ra ùn tắc giao thông kéo dài và đua xe trái phép trên địa bàn thành phố. Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy, xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về phòng cháy, chữa cháy.

5.2. Công tác đối ngoại, liên kết vùng:

Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế; đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả. Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp kịp thời khai thác các cơ hội phát triển mới được tạo ra bởi các cam kết hội nhập quốc tế, nhất là trong khuôn khổ Cộng đồng ASEAN, các hiệp định thương mại tự do mà nước ta đã ký kết. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tham mưu, dự báo, cảnh báo về kinh tế thế giới, khu vực. Tăng cường ngoại giao kinh tế, tập trung tăng cường hỗ trợ địa phương và doanh nghiệp mở rộng và đa dạng hóa thị trường, thu hút các nguồn vốn, công nghệ và du lịch. Triển khai đồng bộ công tác ngoại giao văn hóa, thông tin đối ngoại; chú trọng và phát huy tiềm năng người ViệtNamở nước ngoài. Thực hiện tốt công tác lãnh sự, bảo hộ công dân. Đẩy mạnh hợp tác phát triển với các địa phương trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Vùng đồng bằng sông Hồng; mở rộng và phát huy hiệu quả hợp tác với các địa phương kết nghĩa. Triển khai có hiệu quả công tác tuyên truyền, thông tin đối ngoại, quảng bá hình ảnh thành phố.

---------------------------------------------

CHÚ THÍCH

(1) Tốc độ tăng GDP cả nước đạt 6,8%.

(2) UBND thành phố có báo cáo riêng chi tiết về việc thực hiện chủ đề năm 2019.

(3) Tỷ lệ giá trị sản phẩm nông nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ đạt 70%; có 200 ha nhà lưới, nhà kính, tưới tự động…; tỷ lệ cơ giới hóa trong khâu làm đất đạt 100%. Toàn thành phố có 20.340 ha vùng sản xuất tập trung, giá trị sản xuất trung bình đạt trên 245 triệu đồng/ha/năm; có 54 doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia liên kết với 1.130 hộ vệ tinh.

(4) Tính đến ngày 15-10-2019, đã thực hiện cải tạo, nâng cấp 1.818 ngõ, chiều dài 140,8km tương ứng với khối lượng xi măng 22.643 tấn; hỗ trợ 3.363 pha đèn (đạt 54,8% tổng nhu cầu đăng ký), 3.054 cây xanh (đạt 76,6% tổng nhu cầu đăng ký), 11.930 m2 gạch lát vỉa hè.

(5) Thăm, tặng quà cho hơn 95.190 lượt người có công nhân dịp Tết Kỷ Hợi năm 2019 với tổng số tiền 186,611 tỷ đồng, tăng 13% so với Tết Nguyên đán 2018, trong đó: quà thành phố 167,067 tỷ đồng, tăng 15,46%; quà từ ngân sách các địa phương 7,662 tỷ đồng, tăng 63,28%. Thăm hỏi, tặng quà người có công và thân nhân nhân dịp kỷ niệm 72 năm Ngày Thương binh- Liệt sĩ (27-7-2019) với tổng số tiền 174,721 tỷ đồng, trong đó quà thành phố 165,45 tỷ đồng, tăng 7,69% so với cùng kỳ. Thăm hỏi, tặng quà người có công nhân dịp kỷ niệm 74 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9- 2019 với tổng số tiền 935 triệu đồng.

(6) Đã hỗ trợ 55,92 tỷ đồng cho 1.811 hộ, 2.543 tấn xi măng cho 592 hộ, 5.877.700 viên gạch cho 596 hộ.

(7) Tính đến ngày 15-10-2019, có 341/346 nhà thuốc thực hiện kết nối mạng theo đúng quy định, đạt tỷ lệ 98,6%.

(8) Tỷ lệ người tập thể thao thường xuyên đạt 33,8%; số gia đình thể thao đạt 19%; tỷ lệ trường học dạy thể dục thể thao nội khóa đạt 100%, ngoại khóa đạt 87%,...

(9) Vô địch Wushu trẻ, Cờ vua trẻ xuất sắc, vô địch Thể dục Aerobic, Đua thuyền Rowing và Canoeing vô địch quốc gia.

(10) Trong 10 tháng đầu năm 2019, xảy ra 514 vụ phạm pháp hình sự, giảm 22 vụ (-4,1%) so với cùng kỳ, điều tra khám phá 417 vụ, đạt tỷ lệ 81,1%, các vụ trọng án đạt trên 90%, bắt 789 đối tượng.

(11) Tính từ ngày 15-12-2018 đến ngày 14-10-2019, xảy ra 77 vụ tai nạn giao thông làm chết 61 người, bị thương 35 người, so với cùng kỳ giảm 2 vụ, giảm 7 người chết, số người bị thương không tăng giảm.

(12) Bao gồm: Thu từ khu vực DNNN trung ương; Thu từ khu vực DNNN địa phương; Thuế bảo vệ môi trường; Thu phí, lệ phí; Tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết; Thu khác ngân sách; Thu từ quỹ đất công ích, hoa lợi công sản khác; Thu cổ tức và lợi nhuận sau thuế.

(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2019; mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp năm 2020