Khởi nguồn từ nhân dân

21/04/2020 09:29

Phan Quang

Các nhà báo tác nghiệp tại Hội báo Xuân Hải Phòng 2020. Ảnh: Vũ Dũng

Năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành xuống con tàu viễn dương đi tìm đường cứu nước. Sau hơn bảy năm bôn qua nhiều châu lục trên các chuyến tàu chở hàng, vừa làm vừa học, làm bất cứ việc gì, học bất cứ lúc nào, cuối năm 1918, lấy tên Nguyễn Ái Quốc, Người định cư bán hợp pháp tại Pháp mấy năm, khởi đầu sự nghiệp cách mạng. Được sự dắt dẫn của những nhà báo cánh tả Pháp đồng thời cũng là những nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng Cộng sản Pháp và Tổng Công hội Pháp hồi bấy giờ như Marcel Cachin, Gaston Monmousseau…, Người khởi đầu bằng cách viết những cái tin ngắn năm, bảy dòng, khi viết được bài dài thì học cách rút ngắn bớt cho bài viết súc tích, sâu sắc hơn, dễ đọc hơn.

Vậy là Người vừa làm vừa học, làm báo “nghiệp dư”, bởi còn phải gánh thêm nhiều việc khác mới kiếm đủ tiền sinh sống. Chưa đến một năm sau ngày Người đặt chân lên đất Pháp, báo LHumanité (Nhân đạo), cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Pháp số ra ngày 2-8-1919 đăng bài chuyên luận sắc sảo ký tên Nguyễn Ái Quốc, đầu đề “Vấn đề dân bản xứ”.

Là một người làm báo, từng sống tại những nước phát triển vẫn được coi là văn minh nhất thế giới hồi bấy giờ như Anh, Pháp, Đức, Mỹ…, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận ra nguyên lý: “Ta muốn sống thì phải cách mệnh. Cách mệnh là việc chung của cả dân chúng chứ không phải của một hai người” (Sách “Đường Kách mệnh”, 1925). Thành lập các tổ chức nhân dân, thông qua các đoàn thể ấy vận động, tổ chức phong trào đòi độc lập, tự do là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lịch sử cho thấy, sau ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam không lâu, ngay trong năm 1930 và vài năm tiếp sau đó, lần lượt ra đời các tổ chức quần chúng như công đoàn, nông hội, đoàn thanh niên, hội phụ nữ… Lập các hội đoàn về văn hóa, báo chí có ý nghĩa cấp bách bởi đó là những phương tiện không thể thiếu, phù hợp với thông lệ quốc tế đòi tự do báo chí, tự do ngôn luận - những quyền không riêng của báo chí và những người làm báo, mà là quyền dân chủ hàng đầu, không thể thiếu của mọi người dân bất kỳ thuộc tầng lớp, nghề nghiệp, đẳng cấp nào, ở bất cứ quốc gia nào.

Ý nghĩa sâu xa của việc ra đời Hội Nhà báo Việt Nam ngày 21-4-1950 tại chiến khu Việt Bắc, khởi nguồn từ các phong trào và các tổ chức tiền thân của nó, là ở chỗ đó.

Tháng 7 năm 1936, Hội nghị Trung ương Đảng quyết định chuyển sang hoạt động công khai, hợp pháp một số lĩnh vực, đặc biệt cho ra đời nhiều cơ quan báo chí dưới những danh nghĩa khác nhau, do các nhà cách mạng như Phan Đăng Lưu, Hà Huy Tập, Nguyễn Chí Diểu, Nguyễn An Ninh, Trường Chinh, Trần Huy Liệu, Võ Nguyên Giáp, Hải Triều, Hải Khách, Nguyễn Thị Lựu, Lâm Mộng Quang, Khuất Duy Tiến… sáng lập, điều hành, và được đông đảo các nhà báo có lòng yêu nước thuộc mọi khuynh hướng thực hiện. Hội nghị Báo giới 3 kỳ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ lần lượt được tổ chức với sự chi phối của các nhà báo yêu nước, góp phần thức tỉnh nhiều nhà báo Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình của báo chí cánh tả Pháp ở Đông Dương và ngay tại Pháp, góp phần giác ngộ nhân dân ta. Lịch sử cho thấy, trong khoảng thời gian ba năm từ 1936 đến 1939, phong trào đấu tranh đòi dân chủ, dân sinh của các nhân dân ta lần lượt rộ lên ở cả ba miền là do sự lãnh đạo của Đảng, trong đó báo chí là đội quân đi đầu. Đó là niềm tự hào, là truyền thống của báo chí cách mạng Việt Nam, tạo tiền đề cho sự ra đời của Hội Nhà báo Việt Nam 15 năm sau đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà lãnh đạo xuất sắc, danh nhân văn hóa, người sáng lập báo chí cách mạng Việt Nam, khởi đầu với việc xuất bản báo Thanh niên năm 1925. Người luôn quan tâm đến việc thành lập tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp của những người làm báo. Chỉ ít lâu sau ngày Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, trong bối cảnh đất nước phải đối mặt vô vàn khó khăn, thế nước như “ngàn cân treo sợi tóc”, trong khi phải tập trung sức lực, trí tuệ chèo lái con thuyền quốc gia, Bác Hồ vẫn nghĩ đến việc nên sớm thành lập tổ chức của những người làm báo. Người giao cho nhà báo Xuân Thủy, Chủ nhiệm Báo Cứu quốc đứng ra tổ chức, điều hành công việc ấy. Cuối năm 1945, tại cuộc họp trù bị, nhà báo Xuân Thủy truyền đạt ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cụ Chủ tịch (Chủ tịch Hồ Chí Minh) rất hoan nghênh việc chúng ta lập Hội. Cụ nói, nhà báo cũng là chiến sĩ. Người cầm bút, người cầm súng cầm gươm trên cùng chiến tuyến, cùng toàn dân cứu quốc và kiến quốc. Đũa từng chiếc để rời thì dễ bị bẻ gãy, chụm lại thành bó không sức nào bẻ nổi”.

Do tình hình khó khăn, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, rồi cuối năm 1946, các nhà báo tản về hoạt động tại nhiều vùng trong cả nước. Phải chờ hơn ba năm sau, ngày 21-4-1950, Bác Hồ mới lại chỉ đạo thành lập “Hội Những người viết báo Việt Nam”, nay là Hội Nhà báo Việt Nam. Đại hội họp tại xóm Roòng Khoa, xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Nhà báo Xuân Thủy được bầu làm Hội trưởng, hai Phó hội trưởng là Đỗ Đức Dục và Hoàng Tùng; Nguyễn Thành Lê làm Tổng thư ký.

Từ bấy đến nay, qua 70 năm, Hội Nhà báo Việt Nam với tư cách là tổ chức của những người đi tiên phong trong công tác tư tưởng, những chiến sĩ lấy cây bút và trang giấy làm vũ khí, đấu tranh “phò chính trừ tà” (lời Chủ tịch Hồ Chí Minh), chúng ta đã làm được nhiều việc. Tôi xin dùng lại câu quen thuộc: “Những người làm báo Việt Nam, mà Hội Nhà báo Việt Nam là tổ chức nòng cột, 70 năm qua đã đồng hành cùng dân tộc”. Trong mọi thành tựu của đất nước Việt Nam, đều có phần đóng góp khiêm nhường của những người làm báo và tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp của họ. Đó là niềm tự hào của những người làm báo và là một minh chứng báo chí ta đang đi đúng con đường Bác Hồ đã chỉ dạy nhân Ngày thành lập Hội Nhà báo Việt Nam 70 năm về trước: “Nhà báo cũng là chiến sĩ, báo chí cùng toàn dân cứu quốc và kiến quốc”.

(Nguyên Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam)

(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Khởi nguồn từ nhân dân