(HPĐT)- Thôn Cung Chúc, xã Trung Lập (huyện Vĩnh Bảo) xưa là làng Kính Chúc. Đình làng Kính Chúc thờ 6 vị Thành Hoàng làng, là công trình kiến trúc, điêu khắc nghệ thuật có giá trị đặc biệt được Bộ Văn hóa - Thể thao xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia từ rất sớm (năm 1962). Ngoài ra, làng Kính Chúc từng có đền Tam Thánh thờ đức thánh Trần Hưng Đạo và nghè (miếu) thờ nhị vị tổ sư của nghệ thuật ca trù, còn gọi là miếu Ca Công.

Theo từ điển Bách khoa địa danh Hải Phòng do nhà sử học Ngô Đăng Lợi chủ biên, được Nhà xuất bản Hải Phòng ấn hành năm 1998, miếu Ca Công nghề hát ca trù ở Kính Chúc thờ ông Đinh Dự thanh xà đại vương và vợ là bà Mãn Đường Hoa công chúa. Đây là hai nhân vật lịch sử có công sáng tạo và truyền bá nghệ thuật ca trù, được triều đình Hậu Lê phong thánh sư. Thời Lê Thái tổ, ông Đinh Dự gặp bà Đường Hoa ở huyện Nga Sơn (tỉnh Thanh Hóa) kết làm vợ chồng và cùng nhau về Lỗ Khê sáng tạo ra ca trù. Hai vợ chồng ông luyện tập say mê và quyết định mở phường dạy ca trù. Học trò theo học rất đông, không những người trong làng, mà còn các vùng lân cận cũng đến theo học. Ca trù được hát trong nhiều sự kiện: Lễ mừng công, mừng thọ, mừng công danh, khao vọng, giải sầu, giải bệnh cho gia đình vua, chúa, nhà quyền quý. Ngoài ra, thông qua lối hát thờ, ca trù còn truyền lời thỉnh cầu của dân làng đến các đấng thần linh. Các bậc vua chúa cũng lấy dòng nhạc này cúng trời đất, tổ tiên, thái miếu.
Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi vua, triệu mời hai vợ chồng ngài Đinh Dự về kinh đô ban thưởng. Ngày 13-4-1428, khi vợ chồng ngài Đinh Dự từ trần, vua triệu mời quản giáp (người đứng đầu giáo phường ca trù) về kinh đô nhận mỹ tự “Sinh Tứ, Tự Điển” giao cho giáo phường lập đền, thờ phụng. Năm Canh Thìn (1460) vua Lê Thánh Tông lên ngôi, xét công trạng, phong tặng vợ chồng ông Đinh Dự và bà Đường Hoa mỹ tự “Thanh xà Đại vương” và “Mãn Đường Hoa công chúa”. Vợ chồng ngài được các giáo phường tạo tượng thờ phụng từ thời Lê, đến nay tượng thờ vẫn được bảo tồn tại các nhà thờ Ca Công.
Theo truyền ngôn, nghề hát ca trù tại Kính Chúc có xuất xứ từ một cung phi trong phủ Chúa Trịnh. Tương truyền rằng bà Phạm Thị Sang (dân gian thường gọi là bà Chúa Sang) là người thông minh, đoan trang, đẹp người đẹp nết, hát hay ở trang Kính Chúc. Bà được chúa Trịnh Giang (1729-1740) tuyển vào phủ Chúa và được phong thứ phi. Chúa Trịnh Giang vốn là người thích âm nhạc và văn chương, vì thế bà được Chúa yêu mến chiều chuộng.
Sống trong phủ chúa giàu sang phú quý, bà Sang luôn tưởng nhớ quê nhà. Bà xin chúa Trịnh về quê, cho tạc tượng tổ nghề ca trù và lập giáo phường, truyền dạy ca trù cho dân, âu cũng là để giúp người dân quê hương bà có nghề hát kiếm sống.
Ngày nay, nói đến ca trù của làng Kính Chúc thì chỉ các cụ hơn 80 tuổi mới biết, lớp trẻ hầu như không ai rõ. Khi chúng tôi hỏi cụ Vũ Hoàng Sơn, 93 tuổi, quê làng Cung Chúc, từng dạy học ở quê nhà và có nhiều năm công tác trong ngành Văn hóa, nay nghỉ hưu, sống tại nhà số 34 ngõ 220 đường Cát Bi (quận Hải An) cho biết: Đền thờ Ca Công và nghệ thuật hát ca trù và từng chi tiết về các kép đàn và ca nương, như cụ Ngô Văn Tặng, con trai cụ là Ngô Phương Điếm đều là kép đàn. Các ca nương như cô Hân, cô Hấn, cụ Thủ Trăn - Thủ từ coi sóc đền ca công của làng. Dịp lễ lớn giáo phường ca trù Kính Chúc thường rước các quan trên huyện về thưởng lãm ca trù. Vị trí đền Ca Công của làng ngày xưa chính là nhà văn hóa của thôn 7 bây giờ- một ví trí đẹp, nằm ở trung tâm trục chính đường làng thôn Cung Chúc.
Như vậy cùng với ca trù Lỗ Khê, xã Liên Hà, huyện Đông Anh (Hà Nội), ca trù Đông Môn, xã Hòa Bình (huyện Thủy Nguyên), làng Cung Chúc cũng từng là nơi có nghề đàn- hát ca trù từ xa xưa. Ca trù và đền thờ Ca Công từng tồn tại ở thôn Cung Chúc. Trước năm 1945, khi ở làng Kính Chúc (nay là thôn Cung Chúc) còn miếu thờ tổ sư ca trù, thì cả hai vị đều được thờ bằng tượng gỗ. Cụ Vũ Hoàng Sơn thông tin: Trong nạn đói năm Ất Dậu 1945, các nghệ nhân ca trù địa phương, người thì chết đói, người thì bỏ nghề, chuyển nghề. Đền thờ tổ nghề không có người chăm sóc, xuống cấp, hư hỏng nghiêm trọng và không tồn tại nữa. Các đồ thờ tự mai một dần và thất lạc. Miếu Ca Công không còn nữa, đồ thờ tự và bản sao sắc phong bị thất tán, nay không còn dấu tích.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa 8) năm 1985 của Đảng về phát triển văn hóa, các di tích văn hóa vật thể và phi vật thể tại các địa phương trong cả nước dần được khôi phục, phục dựng. Văn hóa truyền thống của cha ông được nhân dân phục hưng mạnh mẽ. Với những giá trị văn hóa đặc sắc, môn nghệ thuật ca trù mà UNESCO công nhận cần được bảo tồn, tránh việc thất truyền. Chúng tôi mong rằng: Các cơ quan văn hóa có thẩm quyền và chính quyền địa phương cùng nhân dân làng Kính Chúc xưa, thôn Cung Chúc nay cần quan tâm khôi phục lại nghệ thuật ca trù và đền thờ Ca Công tại làng Cung Chúc nhằm bảo tồn và phát huy giá trị loại hình nghệ thuật này. Đây là việc làm cần thiết nhằm gìn giữ những giá trị văn hóa- lịch sử truyền thống từng tồn tại và phát triển trên mảnh đất Cung Chúc. Qua đó, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và giáo dục tình yêu quê hương, đất nước trong nhân dân.
VŨ BÁ XỊNH