(HPĐT)- Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ, từ những trái tim yêu nước nhiệt thành, một đội ngũ nhà báo - chiến sĩ được hình thành từ trong máu lửa cách mạng và kháng chiến chống Pháp, không ngừng lớn mạnh trong kháng chiến chống Mỹ, một lực lượng đặc biệt tinh nhuệ, góp phần rất vẻ vang làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Thật tự hào, Hải Phòng có nhiều người con ưu tú trong đội ngũ nhà báo - chiến sĩ ấy, trong đó có nhà báo Kim Toàn.

Phóng viên chiến trường
Nhà báo KIM TOÀN tên khai sinh là Nguyễn Kim Toàn, sinh ngày 29-11-1940 tại làng Ngọc Tỉnh, một làng nghèo ven biển vừa làm nghề nông vừa làm nghề đánh cá thuộc tổng Cổ Trai xưa, nay là xã Tân Trào (huyện Kiến Thụy). Tuổi thơ ông lớn lên với truyền thống quê hương, trong huyền thoại Giếng Ngọc làm cho tâm hồn luôn hướng về sự trong sáng, thiêng liêng; trong hào khí của một dân tộc “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, kiêu hãnh một thế sống người cộng sản. “Phóng viên chiến trường”, đó là một nghề nguy hiểm, một danh xưng đáng tự hào, được sự mến mộ của cả thế giới vì đó thực sự là những chiến sĩ dám hy sinh, chịu gian khổ đấu tranh cho hòa bình.
Tháng 8-1965, nhà báo Kim Toàn rời thành phố Cảng tình nguyện ra tiền tuyến theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Sau nửa năm học “lớp báo chí đặc biệt”, vừa học nghiệp vụ báo chí, vừa tập luyện quân sự tại Hà Nội, Kim Toàn và bốn phóng viên người miền Bắc: Nguyễn Thế Phiệt (Hà Tây), Đặng Văn Nhưng (Hải Hưng), Lê Thế Thành (Bắc Thái), Phạm Ngọc Thành (Nam Hà) cùng 18 phóng viên người miền Nam, trong đoàn K94 bí mật vượt Trường Sơn đi B, vào tận “Ông Cụ” tức Nam bộ. Trước đó, Báo Hải Phòng còn có nữ nhà báo Nguyễn Thụy Nga vượt biển về Nam bằng tàu không số.
Người ta vượt Trường Sơn một lần đã là anh hùng. Kim Toàn đã hai lần vượt Trường Sơn, con đường người đi sau bám theo dấu chân người đi trước, hứng nước mưa từ ni lông phủ ba lô trên lưng của người đi trước để uống; ngoảnh trước ngoảnh sau chỉ vài chục mét có khi đồng đội đã không còn vì bom mìn, vì biệt kích, thám báo địch và vì kiệt sức… Nhưng cũng chính trên con đường ấy, Kim Toàn càng thấy thiêng liêng tình đồng chí, thấy được sự vĩ đại, lớn lao của lịch sử và cách mạng. Chất lý tưởng vốn đã sáng càng thêm cháy sáng, chí kiên cường được luyện càng thêm tôi luyện để thành một chiến binh gang thép…
Sau hơn bốn tháng đi bộ vượt Trường Sơn, ông vinh dự được trở thành phóng viên báo Giải Phóng - cơ quan Trung ương của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và mang bí danh, bút danh Cao Kim.
Đồng nghiệp và nhiều bạn đọc còn nhớ những bài viết rực lửa, gồm nhiều thể loại của ông thời đó như: Cánh chim nhỏ giữa sào huyệt địch; Sài Gòn rực lửa đầu xuân; Sau giờ nổ súng; Tiếp lửa cho nội thành; Chuyện má Tư Trầu; Dấu ấn K2 giữa vùng tam giác sắt; Trận phá vây bên dòng Vàm Cỏ; Những tội ác chồng lên tội ác; Lộc Ninh vững bước đi lên; Bù Đốp - Mùa vui mới; Nội ơi, cứu con; Hậu phương ta đó; Kẻ hiếu chiến không thoát khỏi vũng lầy thất bại; Kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” trước nguy cơ thảm bại; Lập trường chính nghĩa, thiện chí hòa bình, thái độ nghiêm chỉnh…
Cùng với viết báo, nhà báo Cao Kim còn chụp ảnh, tham gia trình bày báo, minh họa, vẽ tranh đả kích, viết kịch ngắn, soạn lời mới cho các làn điệu dân ca… phục vụ đồng bào và chiến sĩ tại trận. Không chỉ làm báo, ông còn góp phần xây dựng Trường Báo chí của Tiểu ban Báo chí, Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam và mở lớp huấn luyện làm báo cấp tốc tại chỗ cho một số địa phương và đơn vị Quân Giải Phóng. Ngay tại cơ quan Báo Giải Phóng, nhà báo Cao Kim là một trong những người trực tiếp truyền lửa, hướng dẫn làm báo cho một số thanh, thiếu niên từ Sài Gòn, Củ Chi và các nơi mới vào chiến khu công tác. Trong số đó có Minh Hiền (sau này là Phó tổng Biên tập Báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh, Tổng Biên tập Báo Doanh nhân Sài Gòn); Trương Trọng Nghĩa (sau này là luật sư, đại biểu Quốc hội nhiều khóa).
Bởi sự dày dạn chiến trường, bởi khả năng làm báo toàn diện, Cao Kim được chọn cùng nhà báo Thép Mới, chỉ hai anh em, đột nhập vào Sài Gòn từ cuối năm 1967. Thép Mới trong vai nhà buôn, Cao Kim trong vai chụp ảnh dạo, hoạt động công khai, vừa viết bài phản ánh về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy; vừa chuẩn bị mọi mặt để xuất bản tờ báo cách mạng giữa Sài Gòn khi có thời cơ.
Đến nay, nhà báo Kim Toàn vẫn kiên trì dành thời gian kỳ công sưu tầm, xác minh tư liệu và viết bốn cuốn sách quý với hàng nghìn trang về hoạt động của các nhà báo cách mạng và đồng bào, chiến sĩ ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tại chiến trường miền Nam: Viết trong lửa đạn, Cánh chim nhỏ giữa sào huyệt địch, Làm báo ở chiến trường, Hai lần vượt Trường Sơn… Đặc biệt, từ những bài báo đến những trang ghi chép, ông đều dành những dòng viết đẹp nhất để ca ngợi, làm sáng lên hình ảnh những nữ nhà báo bất khuất kiên trung trên chiến trường, như: Nguyễn Thụy Nga (Bảy Vân), Trương Thị Mai (Sáu Mai); về những cơ sở cách mạng, như: má Hai Hòa, má Bảy Phụng, má Tư Trầu, chị Tư Trân; về những chiến sĩ giao liên mật tại Sài Gòn, như: Minh Nguyệt, Tư Nhã, Út Của, Tư Hà, Mộng Liên, Bảy Hương, Năm Liễu, Út Biểu; về những chiến sĩ biệt động thành, như: Hồng Bao, Tư Liên; về những chiến sĩ du kích mật, như: Hai Dặm ở huyện Đức Hòa (Long An), Thanh Toàn ở huyện Triệu Phong (Quảng Trị), Sáu Kháng ở huyện Điện Bàn, Minh Duyên ở huyện Hòa Vang (Quảng Nam), Hồng Thu ở huyện Phù Cát (Bình Định); về Sáu Nhuần, Út Hồng , Tư Diệp ở Bình Long (Bình Phước); về những đội viên thanh niên xung phong Trường Sơn, như: O Lành, o Huệ, o Hương; về bác sĩ Huỳnh Thị Quýt, y tá Bạch Liên ở Bệnh viện Quân y dã chiến 41 giữa tuyến lửa Khu 4… Ông viết để trả nợ và biết mình không bao giờ trả hết nợ cho những con người mình đã gặp trên đường chiến đấu, những con người mà không có lời nào để nói hết sự dũng cảm và những phẩm chất cao quý, thiêng liêng, sự hy sinh vô tư và đau xót của họ…
Ông viết để lưu lại cho đời sau, để tuổi trẻ không quên về một thời kỳ lịch sử, về những con người đã sống, chiến đấu, hy sinh vì lý tưởng của một thế hệ không dễ có hai lần, thế hệ của những con người như nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm viết: “Họ đã sống và chết/ Giản dị và bình tâm/ Không ai nhớ mặt đặt tên/ Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”…
Những tác phẩm của Kim Toàn là những trang sử vô giá của báo chí chiến trường, của cách mạng miền Nam.
Chiến sĩ cầm súng
Làm báo ở chiến trường, là ngày nào cũng tay bút, tay súng, tay chống càn, tay tăng gia sản xuất. Đầu năm 1967, Mỹ huy động 45 nghìn quân với hàng nghìn xe tăng, đại bác và máy bay các loại mở trận càn Junction City hòng tiêu diệt các cơ quan đầu não của Cách mạng miền Nam. Đội du kích của Báo Giải Phóng đã phối hợp du kích các cơ quan bạn và một bộ phận của Sư đoàn 9 Quân Giải phóng anh dũng chiến đấu suốt 82 ngày đêm để bảo vệ căn cứ cách mạng. Nhà báo Nguyễn An Liêu và ba chiến sĩ du kích cơ quan là Hoàng Minh, Bùi Dũng Thành, Nguyễn Băng Sơn đã hy sinh trong các trận đánh ác liệt đó. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân Mậu Thân 1968, nhà báo Cao Kim, Quốc Hùng cùng hai nữ nhân viên của Báo Giải Phóng là Hồ Thị Bao, Nguyễn Thị Liên bí mật đột nhập Sài Gòn trực tiếp tham gia các đội biệt động và đội võ trang tuyên truyền. Nhà báo Quốc Hùng hy sinh. Hồ Thị Bao chiến đấu đến viên đạn cuối cùng trước khi bị địch vây bắt, dù bị tra tấn dã man vẫn giữ vững khí tiết người chiến sĩ cách mạng. Nhà báo Cao Kim nhiều lần bị thương và bị bao vây nhưng vẫn kiên cường bám trụ địa bàn hoạt động.
Trong chuyến công tác đặc biệt kể trên, khi Hồng Châu (Thép Mới) được rút khỏi nội đô, Cao Kim được lệnh ở lại, vừa viết báo, vừa tham gia chiến đấu trong Đội Võ trang Tuyên truyền T4 do đồng chí Hai Ca làm Đội trưởng. Trong một trận đánh giáp lá cà, nhiều chiến sĩ của đơn vị thương vong. Một thương binh được chuyển về tuyến sau với tình trạng đầu, mặt và toàn thân bị thương bầm dập không còn nhận ra hình dạng. Anh trút hơi thở cuối cùng ở Trạm Quân y tiền phương. Trong túi ngực anh chỉ có Giấy giới thiệu sinh hoạt Đảng mang tên Cao Kim. Dựa vào thông tin này, Trưởng Ban Quân y Phân khu 3 Phạm Tương Lai đã viết giấy báo tử và Báo Giải Phóng đã làm lễ truy điệu ông. Nhà thơ Võ Thị An có một trường ca về cuộc đời Cao Kim có những câu về sự kiện này: “Cả Tòa soạn bàng hoàng, nỗi thương đau ập đến/ Cao Kim đã hy sinh trong trận chiến… Tất cả biến đau thương thành sức mạnh…”.
Ngày 27-2-1968, tức 29 tháng Giêng Mậu Thân, các nhà báo Võ Nhân Lý, Giám đốc Thông tấn xã Giải Phóng; Bảy Sậy, phóng viên Đài Phát thanh Giải Phóng, Cao Kim, phóng viên Báo Giải Phóng và chiến sĩ bảo vệ Nguyễn Hoàng, bị lực lượng địch đông đảo có nhiều máy bay, phi pháo, tàu chiến yểm trợ vây chặt trong khu rừng dừa ven sông Vàm Cỏ tại xã Bình Đức, huyện Bến Thủ, Long An. Suốt từ sáng tới chập tối, Cao Kim cùng các nhà báo mưu trí, dũng cảm, vừa bí mật ẩn mình trong sình lầy vừa tấn công đánh lạc hướng địch, rồi bất ngờ nổ súng khi chỉ cách địch 5-10 mét, khiến nhiều tên chết và bị thương, cả bọn hoảng loạn tháo chạy. Thừa cơ đó, các nhà báo thoát hiểm trong gang tấc. Trong trận chiến đấu sinh tử này, Cao Kim trở thành người chỉ huy bất đắc dĩ và cũng đã chứng minh được khả năng phán đoán tình hình, khả năng chiến đấu và chỉ huy xuất sắc.
Bước tiếp Trường Sơn trên đất Cảng
Nhà báo Kim Toàn đã ra khỏi chiến tranh trong tư thế của người chiến sĩ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao phó trên mặt trận báo chí. Cánh cửa cuộc đời rộng mở. Ông có thể được ưu tiên chọn nơi mình sống, chọn cơ quan công tác.
Nhưng không, ông lại trở về với thành phố Cảng quê hương, về với gia đình, với Báo Hải Phòng thân yêu từng gắn bó với ông thời tuổi trẻ.
Những ai xa quê hương, xa gia đình dài và lâu - dài lâu bằng một cuộc chiến tranh; dài lâu bằng khoảng cách giữa sự sống và cái chết diễn ra triền miên trong nhiều năm, hẳn sẽ hiểu sự lựa chọn của nhà báo Kim Toàn là không thể khác.
Báo Hải Phòng, trong các thời kỳ, nhất là từ khi nhà báo Kim Toàn làm Tổng Biên tập (1989-2002) đã góp phần xứng đáng vào những thành tựu vượt bậc mang tính cách mạng. Tôi nhớ có một nhà giáo Trường cao đẳng Sư phạm của thành phố Cảng từng nói: “Nếu chỉ mua một tờ báo hằng ngày, tôi sẽ chọn mua Báo Hải Phòng”.
Những đóng góp lớn lao của ông còn được biểu lộ một cách sinh động trong sự phát triển của Báo Hải Phòng hôm nay, trong phẩm chất vừa hồng vừa chuyên của các thế hệ làm Báo Hải Phòng mà ông đã đào tạo, đã truyền cảm hứng.
Mỗi thế hệ sẽ qua đi. Nhưng nó sẽ không qua đi khi được tiếp nối bằng những thế hệ mai sau. Nhà báo Kim Toàn đã đi trọn cuộc đời nhà báo - chiến sĩ. Ông xứng đáng là một anh hùng. Cuộc đời ông đã trở thành nguồn năng lượng cho con cháu mình và những thế hệ tương lai.