(HPĐT)- Giữa âm nhạc - hội họa - thơ văn, nhạc sĩ Văn Cao được nhiều người khẳng định là một hiện tượng hết sức đặc biệt, hiếm có trong lịch sử văn nghệ Việt Nam hiện đại. Ông sinh ra và lớn lên ở Hải Phòng, bắt đầu sự nghiệp sáng tác ở Hải Phòng, “chất Hải Phòng” in đậm trong tác phẩm của ông.

Nhạc sĩ Văn Cao. Ảnh tư liệu
Hải Phòng qua trường ca “Những người trên cửa biển”
Nhạc sĩ, họa sĩ, nhà thơ Văn Cao tên đầy đủ là Nguyễn Văn Cao, sinh năm 1923, mất năm 1995 tại Hà Nội. Với tài năng thiên bẩm, đa dạng, độc đáo, tích hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy, thẩm mỹ, bút pháp; giữa hiện thực đời sống, sự cảm nhận và nghệ thuật biểu đạt.
Văn Cao viết trường ca “Những người trên cửa biển” vào mùa Xuân 1956. Xuất hiện lần đầu trong tập thơ Cửa biển do Nhà xuất bản Văn nghệ ấn hành tháng 10- 1956, “Cửa biển” trong tên của trường ca cũng được lấy làm tên đại diện cho tập thơ in chung cùng Hoàng Cầm, Trần Dần và Lê Đạt. Chỉ 2 năm sau khi từ chiến khu trở về, tình yêu đất nước, khát vọng cống hiến, những trăn trở, băn khoăn... mang ý nghĩa lãng mạn cách mạng cũng như mong muốn đổi mới, cách tân thơ ca đã cùng hội tụ trong ý tưởng và tác phẩm của 4 nhà thơ ở tập “Cửa biển” này.
Có lẽ đây là lần đầu trong văn học Việt Nam, Hải Phòng xuất hiện với tên gọi gần gũi là “Cửa biển”. Từ đó về sau, “Cửa biển” được người miền Bắc nhớ về Hải Phòng bên cạnh những tên gọi quen thuộc khác như thành phố Cảng, thành phố công nghiệp hoặc thành phố Hoa phượng đỏ. Với thể thơ tự do nhưng hình ảnh xuất hiện lớp lớp điệp trùng, nhạc tính, trường ca “Những người trên cửa biển” như là sử thi về quá trình hình thành và phát triển của Hải Phòng đến khi được tiếp quản vào ngày 13-5-1955.
Đọc Văn Cao, ta biết “Sinh tôi ra đã có Hải Phòng/ Đầu nhà mới trồng cây mận”. Hải Phòng khởi thủy từ “Bãi sú bồi thành biến”. Hải Phòng là thành phố công nghiệp bởi “Nhà máy xi măng đã dựng bên sông”, nhà máy sản xuất xi măng đầu tiên tại Việt Nam và Đông Dương được người Pháp xây dựng năm 1899 trên vùng đất ngã ba Sông Cấm và Kênh đào Hạ Lý.
Thơ ông là một biên niên sử về vùng đất và con người cửa biển, đó là: “Cồn đất lầy um tùm cây cỏ dại/Nổi lên một thành phố/ Ngọn khói đùn lên sừng sững chân trời/ Người dân thành phố/ Mồ hôi còn nước mặn phù sa/ Dầu mỡ bụi than/ Sống như muối đọng lấy bờ lấy bãi/ Sống chắt chiu đùm bọc yêu thương…”. Trong thơ Văn Cao, ngay từ những ngày đầu về với đô thị, người Hải Phòng đã rộng rãi, khoáng đạt là thế.
Với trường ca này, Văn Cao cho thấy Hải Phòng trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Hải Phòng trong 300 ngày chờ tiếp quản giải giáp vũ khí của quân Pháp, Hải Phòng từ trong bão gió mà đi đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Bắc: “Xưa ai hay hoa phượng mọc bên đường là đẹp / Hôm nay hoa đổ vào mắt kính ống quay phim/ Tờ báo đầu tiên tả chuyện mùi hoa / Màu phượng làm duyên đầu câu thơ mới/ Chúng ta đi mang tâm hồn đứa trẻ/ Mới trông thấy nhà thấy đèn thấy phố thấy người đi/Ngày giải phóng những tiếng nổ chào mừng”. Hóa ra, Văn Cao cũng là người đã viết về Hải Phòng và màu hoa phượng rất sớm như thế đấy.
16 khổ thơ, 4 chương trong trường ca “Những người trên cửa biển”, Văn Cao cho thấy “chất Hải Phòng” trong tâm tưởng “Tôi yêu Hải Phòng như Việt Nam nhỏ lại/ Tôi yêu Việt Nam như tôi biết yêu tôi”. Những câu thơ chân chất mà biến hóa, nặng nghĩa tình với cuộc đời lam lũ những con người đã làm nên Hải Phòng.

Đồng chí Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân dân, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam và PGS. TS, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ, Chủ tịch hội đồng Lý luận và phê bình văn học nghệ thuật Trung ương trao quà tặng đại diện gia đình nhạc sĩ Văn Cao.
Một Hải Phòng lãng mạn và đầy chất thơ
Cái “chất Hải Phòng” đắm say, hào hoa, lãng mạn, ta có thể tìm thấy từ những năm 40 của thế kỷ trước qua hàng loạt những ca khúc hay nhất của Văn Cao viết tại Hải Phòng hoặc hoàn thiện tại Hải Phòng như “Bến Xuân” (1942), “Trương Chi” (1942), “Thiên Thai” (1944)…
Ca khúc “Thiên Thai” nguyên là bài “Trên sông Hương” được Văn Cao sáng tác tại Sài Gòn, từng đem ra trình diễn nhưng không thành công. Năm 1941, khi trở lại Hải Phòng, ông sửa chữa lại cả nhạc lẫn lời và đặt tên là “Thiên Thai”. Văn Cao còn cho biết “Tôi sinh ra và lớn lên ở vùng cảng Hải Phòng, nên sông nước là hình ảnh tôi vô cùng yêu thích. Nhiều sáng tác của tôi, đặc biệt là bài “Suối mơ”, sông nước đã trở thành hình tượng chính trong giai điệu và lời ca...”.
Ca khúc “Bến xuân” viết sau khi nàng thơ Hoàng Oanh đến thăm rồi “theo chồng bỏ cuộc chơi”: “Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước/ Em đến tôi một lần/ Bao lũ chim rừng/ Họp đàn trên khắp bến xuân”. Ông nói mình viết ca khúc này ở Bến đò Rừng, gắn với chất sử thi của Bạch Đằng Giang, vùng này núi sông bát ngát như lời hát “Rừng mênh mông che lấp kín non xanh. Ôi cánh buồm nâu còn trên lớp sóng xuân…” đã tạo ra sự lãng mạn, huyền hoặc, nên thơ.
Trở lại với hình ảnh sông nước, trời mây và biển ào ạt gió của Văn Cao, ta thấy ông yêu “Hải Phòng nhiều mây nhiều nước/ Mênh mông bốn phía chân trời/ Có mùa nhạn bay ra biển/ Chim yến từ biển bay về”. Chính vì vậy, khát vọng sáng tạo trong ông đã được thăng hoa từ những cảm xúc nuôi dưỡng và vun đắp ở một Hải Phòng kiêu hùng, cởi mở và thật là thơ mộng.
Và tôi nghĩ, mọi người cũng nhận ra “chất Hải Phòng” đậm đặc trong các tác phẩm của Văn Cao như tôi./.
VŨ THÚY HỒNG (Hội Nhà văn Hải Phòng)